Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

DUY MA CẬT VÀ LÝ TƯỞNG NGƯỜI CƯ SĨ

DUY MA CẬT VÀ LÝ TƯỞNG NGƯỜI CƯ SĨ

Daisaku Ikeda (The First Mileage of Buddhism)
Nguyên Hảo dịch
 
NGÀI DUY MA CẬT (VIMALAKIRTI)
Với dự khởi dậy của phong trào Ðại Thừa, Phật Giáo trải qua tiến trình trẻ trung hóa. Vai trò then chốt của tiến trình nầy là những người lãnh đạo trong cộng đồng cư sĩ, và vì vậy tôi muốn để một ít thì giờ đề cập đến cách sống và sự đóng góp của họ cho Phật Giáo thời trong kỳ xa xưa đó. Việc nầy có thể được hoàn tất tốt nhất bằng cách tập trung vào nhân vật Duy Ma Cật (Vimalakirti) như được diễn tả trong cuốn Kinh Vimalakirti-nirdasha (Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh) và thường được gọi là Kinh Duy Ma Cật.
Duy Ma Cật, một thương gia giàu có ở thành Vaisali (Tỳ Xá Ly), có biện tài, giỏi tranh luận, có trí nhớ phi thường - ông là một nhân vật có sức quyến rũ và bí ẩn không cùng. Không giống như những đại đệ tử của Ðức Thích Ca Mưu Ni, dường như tách rời hẳn ra ngoài đời sống thế tục hàng ngày và hầu như hoàn toàn có vẻ nghiêm túc trong sự giác ngộ của mình, ông sống một đời sống tròn vẹn và không bị ràng buộc của một người cư sĩ thật sự. Ông đại biểu cho sự tương phản hoàn toàn đối với lý tưởng A La Hán được các tu sĩ Tiểu Thừa tưng tiu, một đời sống hiện thân của tinh thần Ðại Thừa trong việc khước từ tinh thần tu viện hạn hẹp và nhấn mạnh rằng Phật Giáo được thành lập để đi vào xã hội.
Ðối vớ giới Phật tử ở Ấn Ðố, Trung Hoa, Nhật Bản, đặc biệt là những cư sĩ tại gia, Duy Ma Cật đã trở thành một nhân vật được quảng đại quần chúng biết đến. Ðiều nầy được minh chứng khi chúng ta thấy rằng Kinh Duy Ma Cật ngày càng được đọc rộng rãi hơn trong giới Phật Giáo Ðại Thừa bên cạnh Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Có sáu bản dịch tiếng Trung Hoa, trong đó có ba bản hiện còn. Trong những bản nầy, bản thứ hai do Ngài Vimalakirti (Cưu Ma La Thập, 344-413) dịch được coi như một bản văn chương đẹp đẽ nhất và được đọc nhiều nhất. Bồ tát triết gia Long Thọ (Nagarjuna) trong Ðại Trí Ðộ Luận (Mahaprajna-paramitopadesha) đã trích dẫn từ Kinh Duy Ma Cật nhiều hơn những kinh điển khác ngoài Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, và phái Thiên Thai cũng đặt Kinh nầy vào một địa vị quan trọng lớn lao, có bản sớ giải về Kinh nầy. Ở Nhật Bản, đó là một trong ba bản Kinh mà thái tử Shotòku (Thánh Ðức) viết sớ giải, hai bản kinh kia là Kinh Pháp Hoa và Kinh Thắng Man (Shrimala).
Kinh Duy Ma Cật chia xẻ với Kinh Pháp Hoa nét độc đáo trong số những kinh điển Ðại Thừa gây ấn tượng và tác động mạnh nhất, và đã ảnh hưởng lớn lao lên các thi sĩ và văn sĩ Trung Hoa và Nhật Bản. Thi sĩ nổi danh của Trung Hoa thời Ðường là Vương Duy chẳng hạn bày tỏ sự kính ngưỡng của ông ta đối ới Kinh nầy bằng cách lấy tên Duy Ma làn tên mình. Tác phẩm Hòjòki (Túp lều của tôi) của Kamo no Chòmei, trong văn học cổ đại Nhật Bản, cũng chịu ảnh hưởng sâu xa tư tưởng Kinh Duy Ma Cật, và "túp lều mười bộ" được diễn tả là trực tiếp phỏng theo căn phòng mười bộ của ngài Duy Ma.
Mặc dầu sự đẹp đẽ trong văn chương, cũng như việc nó không thuộc vào một trường phái riêng biệt nào, có thể là một phần nguyên do làm cho bản Kinh phổ biến rộng rãi và lâu dài, nhưng theo tôi, dường như nhân tố quan trọng nhất là ấn tượng mà Duy Ma Cật đã gây ra nơi người đọc như là một con người, và ông đã biểu lộ sự áp dụng thực tiễn của tinh thần Ðại thừa một cách thích đáng. Bản Kinh diễn tả Duy Ma Cật đã tranh luận với từng vị một trong những đệ tử lớn của Ðức Thích Ca Mâu Ni như thế nào và tiếp tục trình bày cách thế ông đã đưa các ngài vào thế bí qua trí tuệ sắc bén và tài hùng biện của ông. Ông còn đàm luận ngay cả với Ngài Văn Thù (Manjushri), một vị Bồ Tát có Trí Tuệ siêu việt, thảo luận về những vấn đề sâu xa nhất của triết lý Ðại Thừa.
Tư tưởng Phật Giáo trong giai đoạn trước khi có phong trào Ðại Thừa, như đã được trình bày, tập trung vào hình ảnh của tu sĩ, người sống nghiêm nhặt trong giới luật, và thực hành giáo pháp của Ðức Thích Ca Mâu Ni để chứng Thánh quả. Duy Ma Cật đứng trên lập trường hoàn toàn đối lập với những viện sĩ đó, là một thương gia giàu có, một công dân nổi bậc của thành Vaisali (Tỳ Xá Ly), được đồng bào thương mến và rất gần gũi với họ. Ông có vợ và gia đình, ông dấng thân trong những hoạt động thương mãi, và thỉnh thoảng ông cũng có mặt trong các khu vui chơi và nơi cờ bạc trong thành phố, để truyền bá giáo pháp Ðại Thừa. Ông là một người thực hành loại Giáo Pháp mà Giáo Hội tiền kỳ, với sự nhấn mạnh vào tinh thần tu viện, không thể chấp nhận.
Chúng ta không có gì rõ ràng ngoài bản kinh để có thể xác định sự hiện hữu của Duy Ma Cật. Vị tăng sĩ Trung Hoa là Huyền Trang có ghi lại rằng khi ngài viếng thành phố Tỳ Xá Ly trong cuộc du hành sang Ấn Ðộ của ngài vào thế kỷ thứ bảy, ngài được chỉ cho ngôi nhà xưa của Duy Ma Cật, cũng như nhiều nơi được nói là Duy Ma Cật đã từng dạy tại đó. Tuy nhiên, điều nầy cũng không đủ để chứng minh, bởi vì rất nhiều nhân vật chỉ có trong văn chương hay huyền thoại cũng được gán cho nơi sinh, chỗ ở, y phục, vân vân. Với tất cả những gì chúng ta biết, theo một vài nhà Phật Học, Duy Ma Cật có thể không khác hơn là một hiện thân tưởng tượng của lý tưởng cư sĩ do tín đồ Ðại Thừa tạo ra về sau.
Chắc chắn không có lý gì để có thể bác bỏ một khẳng định như vậy, bởi vì, như chúng ta biết, những học giả Tây phương xưa kia thường bác bỏ việc Ðức Thích Ca Mâu Ni đã từng có trong lịch sử, và Vua Ashoka (A Dục), cho đến khi khai quật được những chỉ dụ của ông, được coi như một lãnh tụ huyền thoại do những tín đồ Phật Giáo sùng tín dựng lên.
Ngay dù nếu Duy Ma Cật là một nhân vật thuần túy tưởng tượng, cũng không thể chối bỏ giá trị của bộ kinh Ðại Thừa vĩ đại mà những hành vi của ông được diễn tả trong đó. Không phải tính lịch sử của Duy Ma Cật là quan trọng, nhưng chính cách thức mà bản Kinh dùng ông để làm sáng tỏ lý tưởng Bồ Tát, đưa ra những kích thước thực tiễn được dùng để truyền bá Phật Giáo trong toàn bộ xã hội, và trình bày một quan điểm sâu xa và cao thượng của sự sống, nó siêu vượt tính cách nhị nguyên của có và không. Duy Ma Cật chỉ là một cổ xe cho sự truyền bá tinh thần Ðại Thừa.
Dù Duy Ma Cật là một nhân vật thật hay chỉ trong văn chương, thành phố Vaishali (Tỳ Xá Li), hậu trường của những hành động của ông, không phải là một sản phẩm của tưởng tượng. Ðó là một trung tâm thương mãi ở miền Bắc Ấn Ðộ và là một nguồn cấp dưỡng quan trọng của phong trào Ðại Thừa. Chính Ðức Thích Ca Mâu Ni đã tỏ ra rất chú ý đến thành phố nầy và đã viếng nơi đây nhiều lần với đệ tử của Ngài. Không lâu trước khi Ngài nhập diệt, khi trên đường về thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu), Ngài đã dừng lại một thời gian tại đây, và khi rời thành phố, Ngài nói: "Thành Tỳ Xá Li đẹp xiết bao!" Biết điều nầy, chúng ta không quá ngạc nhiên nếu thật sự có những tín đồ tại gia quan trọng như Duy Ma Cật ở trong thành phố nầy.
Chúng ta không nên nghĩ rằng những đệ tử nổi danh của Ngài chỉ là những vị Thanh văn, mặc dầu những câu chuyện về các vị nầy được ghi lại đầy trong kinh điển tiền kỳ. Trong những năm đầu của giáo hội, chắc chắn Ðức Thích Ca Mâu Ni đã để một thời gian dài thuyết dạy cho những người trẻ gia nhập đời sống tu viện và quy tụ quanh Ngài. Nhưng khi tiếng tăm Ngài được truyền rộng, càng ngày càng nhiều người tìm đến nghe giáo pháp của Ngài, và số nam nữ trở thành tín đồ tại gia của Ngài ngày càng gia tăng là điều tự nhiên. Kinh điển có ghi lại Vua Bimbisara (Tần Bà Sa La), cai trị nước Magadha (Ma Kiệt Ðà), cũng như Vua Pasenadi (Ba Tư Nặc), cai trị nước Koshala (Kiều Tát La), cả hai đều tín ngưỡng Phật Pháp, và chúng ta cũng được nghe nói đến những sự quy hướng trong giới thương gia giàu có như Sudatta (Tu Ðạt), người đã cúng tịnh xá Kỳ Viên cho Giáo Ðoàn.
Khi Ðức Thích Ca Mâu Ni nhắm đến những tín đồ tại gia, chúng ta có thể chắc chắn rằng Ngài đã hướng dẫn họ theo những sự tu tập khác hơn những gì Ngài dạy cho giới tu sĩ, và vì vậy rất hợp lý khi giả thiết rằng những giáo lý Ngài dạy cho họ ở một mức độ nội dung nào đó khác hơn những gì đã dạy cho tu sĩ. Nếu những giáo lý nầy thật sự về sau kết tinh lại dưới hình thức những kinh điển Ðại Thừa, chúng ta có thể phỏng đoán rằng chúng nhấn mạnh trên bổn phận của người tín đồ tại gia để làm lợi ích cho người khác hơn là cho chính bản thân và phát triển Giáo Pháp vào trong toàn bộ xã hội.
Cảm tưởng của tôi là Ðức Thích ca Mâu Ni trông cậy vào Giáo Ðoàn Tăng Lữ trong việc bảo đảm phần giáo lý triết học và tôn giáo mà Ngài đã nhiệt thành truyền dạy trong năm mươi năm sau khi giác ngộ được lưu truyền một cách chính xác cho thế hệ sau, trong khi Ngài quan tâm vào giới cư sĩ tại gia, với tinh thần tích cực và kiến thức về thế gian của họ, rằng họ có thể truyền bá giáo pháp của Ngài vào trong lòng xã hội. Nếu giả thiết của tôi là đứng, chúng ta có thể nói rằng Ðức Thích Ca Mâu Ni trong giáo pháp của Ngài nhận thấy cả hai giới tu sĩ và tại gia đều quan trọng như nhau và thấy rằng mỗi giới có phận sự riêng và không thể thiếu giới nào.
 

XÂY DỰNG PHẬT QUỐC ĐỘ

Chúng ta hãy cùng nhau bỏ chút thời gian xem xét bản dịch Kinh Duy Ma Cật của Ngài Cưu Ma La Thập, và xem con người Duy Ma Cật như thế nào.
Phần thứ nhất gồm có bốn phẩm, nói về những sự việc xảy ra ở vườn Ambapali (Yêm La) ở ngoại ô thành Vaishali (Tỳ Xá Li). Ambapali là một kỹ nữ ở thành Vaishali (Tỳ Xá Li) và là một người đàn bà rất sùng tín. Ở Ấn Ðộ thời bấy giờ, kỹ nữ và gái mãi dân được chính phủ giám sát và bảo vệ. Ambapali được coi như một trong những tài sản của Tỳ Xá Li, không những có sắc đẹp, lại rất thông minh và và có học. Cô ta rất giàu có và làm chủ những khu vườn đẹp ở vùng ngoại ô, mà cô đã dâng cúng cho Ðức Thích Ca Mâu Ni. Vì lý do nầy, Ngài và các đệ tử luôn luôn ngụ tại khu vườn mỗi khi có dịp viếng Tỳ xá Li. Trong thời gian được diễn tả trong Kinh Duy Ma Cật, Ðức Thích Ca Mưu Ni đã cùng với tám ngàn tỳ kheo và ba ngàn hai trăm vị Bồ tát nghỉ dưới bóng những cây xoài trong khu vườn nầy.
Vào lúc đó, một người thanh niên tên là Bảo Tích cùng đi với năm trăm thanh niên quí tộc của thành Tỳ Xá Li, mỗi người cầm một cây lọng bảy báu, đến viếng Phật. Ngay sau đó, Ðức Thích Ca Mâu Ni làm cho năm trăm cây lọng báu hiệp thành một cây lọng, với cây lọng lớn nầy, Ngài che mát các cõi trong ba ngàn đại thiên thế giới. Ðoạn nầy có thể hiểu là từ bỏ bản ngã riêng của năm trăm người để sống trong đại ngã duy nhất của Phật. Ý nghĩa tiềm ẩn của đoạn kinh là điều mà ở những kinh điển khác trình bày với khái niệm "nhứt niệm tam thiên," tức ba ngàn đại thiên thế giới bao hàm trong một niệm.
Bảo Tích, đầy lòng kính mộ, tụng một bài kệ tán thán Ðức Thế Tôn. Trong đó có đoạn rất nổi danh:
"Phật dạy Giáo Pháp chỉ một âm,
Mà mỗi chúng sanh tùy bậc hiểu."
Có nghĩa là mỗi người nghe giáo pháp của Phật sẽ hiểu khác nhau tùy theo căn tánh và khả năng. Dù Giáo Pháp có được trình bày hùng hồn như thế nào, nếu người nghe chỉ có một quan điểm hẹp hòi của Thanh văn hay Bích chi, người nầy không thể hiểu giáo pháp Ðại Thừa của Ðức Phật. Mặt khác, nếu người nầy có tâm hồn rộng rãi có thể phóng tầm nhìn ra ngoài ba ngàn đại thiên thế giới, y sẽ chứng nghiệm được ý nghĩa chân thật của Phật không gì khó khăn. Ðoạn Kinh nầy là đoạn nhắc nhở cho chúng ta, những người tầm cầu Giáo Pháp, rằng một thái độ rộng rãi và cởi mở quan trọng như thế nào.
Sau đó, Bảo Tích hỏi Ðức Thích Ca Mâu Ni những việc Bồ tát cần làm để chứng được cõi Phật thanh tịnh. Ðức Thích Ca Mâu Ni trả lời như sau: "Này Bảo Tích! quốc độ của tất cả chúng sanh là Phật quốc độ của các Bồ Tát. Vì sao? Bởi vì các quốc độ của Phật được giữ gìn do những chúng sanh được các vị Bồ tát chuyển hóa, và được giữ gìn do những chúng sanh được các Bồ tát giáo hóa. Quốc độ Phật được mở rộng do nhiều chúng sanh chứng ngộ trí huệ Phật, được mở rộng do những người giác ngộ tánh Bồ tát nơi chính mình. Như vậy, quốc độ Phật của Bồ tát là để làm lợi ích chúng sanh."
Bồ tát tu tập để thành tựu pháp giới hay Phật quốc, Phật quốc nầy hoàn toàn thanh tịnh, nhưng như đoạn Kinh nói rõ, "những quốc độ Phật" nầy không phải "Cõi Tịnh Ðộ" ở phương Tây. Những cõi Phật nầy có sẵn trong tâm linh của vị Bồ tát khi phát nguyện làm lợi ích cho tất cả chúng sanh và tinh tấn tu tập để chứng ngộ Phật quốc độ đó. Nói cách khác, quốc độ Phật được quan niệm không phải như là kết quả để đạt đến mà như là động lực, hay một tiến trình, để đạt đến nó. Ðó là một điển hình về tính chất năng động tiêu biểu của toàn bản Kinh Duy Ma Cật. Ðoạn Kinh cũng có thể được coi như là một công thức đo lường phạm vi truyền bá Giáo Pháp mà một người đạt tới. Có nghĩa là, khi một hành giả giảng dạy cho những người của một tôn giáo nào đó, mức độ mà người nầy hiểu về sứ mệnh của mình trong tư cách một Bồ Tát chuyển hóa người khác vào giáo lý Ðại Thừa, để đưa họ vào cảnh giới trí tuệ của Phật, và giải thoát cho tất cả chúng sanh, sẽ quyết định mức độ thanh tịnh và sự đạt đến bao xa trong quốc độ Phật mà người nầy thành tựu.
Tất cả những đoạn được trình bày ở trên đều thuộc về phẩm thứ nhứt của Kinh, tên là "Phật Quốc." Trong phẩn thứ hai, phẩm "Phương Tiện," chúng ta sẽ xét đến nhân vật đáng lưu ý là ngài Duy Ma Cật. Vimala trong tiếng Sanscrit (Phạn ngữ) có nghĩa là "không ô nhiễm," và kirti có nghĩa là "danh tiếng" hay "thanh danh." Ngài Huyền Trang dịch là "Tịnh Danh" (Danh tiếng trong sạch), nhưng ngài Cưu Ma La Thập dùng chữ Trung Hoa để diễn âm Phạn ngữ. Vì bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập rất nổi tiếng, nên ở Trng Hoa thường dùng tên Duy Ma Cật hay Duy Ma để gọi ngài Vimalakirti (Tịnh Danh).
Bản Kinh cho chúng ta biết rằng có một người giàu có ở Tỳ Xá Li tên là Duy Ma Cật hay "Tịnh Danh," một đệ tử Phật Giáo tại gia có nhiều phương tiện thiện xảo để chuyển hóa quần chúng về với giáo pháp.
Theo Kinh, ông là một người năng động. Những công cuộc đầu tư thương mãi của ông phát đạt, và ông được cho biết là đã chịu khó ban bố những của cải của ông của ông cho số động quần chúng. Ông đi mọi nơi trong thành để hướng dẫn mọi người, viếng các trường học và dạy dỗ các trẻ em bằng phương pháp khéo léo, và có rất nhiều bạn bè cả già lẫn trẻ. Ông cũng quen thuộc với những tác phẩm phổ biến đương thời, và được nhiều người trong giai cấp Ba La Môn mến mộ.
Kinh nói: "Khi ở với các đại thần, ông dạy Giáo Pháp chân thật làm lợi ích cho những đại thần tôn quý nhất." Có thể trong thực tế ông đã có thời gian làm đại thần; vì ở Tỳ Xá Li đã có một hình thức chính phủ cộng hòa, có thể rằng ông đã được bầu giữ một chức vụ quan trọng. Dù thế nào, ông cũng là một công dân xuất chúng của quốc gia.
Ðịa vị của Duy Ma Cật ổ Tỳ Xá Li gợi cho chúng ta nhớ đến Socrates ở Athens, ngoại trừ sự việc rằng Socrates không giàu có. Và nếu Duy Ma Cật có ảnh hưởng lớn lao hơn Socrates, ông cũng có diễm phúc hơn Socrates trong sự tín nhiệm của đồng bào. Ðiều nầy được chứng minh hùng hồn trong dịp ông bị bịnh, khi đó các vua, đại thần, người già cả, cư sĩ, bà la môn, vương tử, và các quan lại, tính tổng cộng có đến nhiều ngàn người, đến để hỏi thăm sức khỏe. Ông được sự thương mến và cảm tình như vậy.
Ðức Thích Ca Mâu Ni lúc bấy giờ ở tại vườn Yêm La (Ambapali), và Ngài quyết định phái người đến thăm hỏi Duy Ma Cật. Phẩm thứ ba và thứ bốn, có tên là "Thanh Văn" và "Bồ Tát", diễn tả việc Ðức Thích Ca Mâu Ni chỉ định từng vị một trong mười Ðại Ðệ Tử của Ngài, tiếp đến là đức Di Lặc và những vị Bồ tát khác, nhận lãnh trách nhiệm. Nhưng mỗi vị nhớ lại việc trước kia bị Duy Ma Cật phản bác, nói rằng mình không thích hợp với sự giao phó.
Nêu lên một ví dụ, Xá Lợi Phất (Shariputra), được coi như một vị "trí huệ đệ nhứt," kể lại lúc xưa có một lần khi ngài ngồi kiết già thiền định dưới một gốc cây, Duy Ma Cật xuất hiện và giảng cho ngài về phương pháp đúng đắn về tọa thiền. Ông nói: "Nầy ngài Xá Lợi Phất, không phải ngồi là ngồi thiền. Ngồi thiền có nghĩa là không hiển lộ trong ba cõi. Cũng có nghĩa là phơi bày chính mình trong tánh tự nhiên trong đó thân và tâm đều không còn. Có nghĩa rằng tu hành Phật Ðạo trong lúc làm những công việc hàng ngày trong thế gian. Ðó gọi là ngồi thiền."
Và ngài Xá Lợi Phất không có câu trả lời, chỉ ngồi lặng thinh. Vì lý do đó, ngài giải thích với Ðức Thích Ca Mâu Ni rằng mình không thể nhận lãnh trách vụ thăm hỏi sức khỏe Duy Ma Cật.
Những đoạn Kinh nầy đại biểu một sự tấn công vào các đệ tử của Ðức Thích Ca mâu Ni và quan điểm Tiểu thừa của họ, và những sự tu tập dưới quan điểm Ðại Thừa. Như vậy, những thí dụ vừa được trích dẫn, những sự tu tập của Tiểu Thừa, bị phê phán về chủ nghĩa hình thức mà họ rơi vào, và không lưu ý đến nội dung và tác dụng thực tiễn của sự tu tập. Tinh thần tiêu biểu của Ðại Thừa rất rõ ràng ở đây.
Ghi ra ở đây một điều thích thú là mỗi vị trong mười đại đệ tử đều bày tỏ cùng một tư thế và thú nhân rằng mình không có khả năng so sánh với Duy Ma Cật, lý tưởng của Bồ Tát Ðại Thừa. Tuy nhiên, với nhiệt tâm tấn công lý tưởng Thanh Văn hay Bích Chi của Tiểu thừa, đôi khi đã cho phép nó đi ra ngoài những giới hạn của lý lẽ. Ví dụ trong kinh Duy Ma Cật, ngài Xá Lợi Phật từ đầu đến cuối bị coi như một người hề. Tuy nhiên, trong thực tế, chúng ta biết ngài là khác hơn là một người hề, trong đời sống thực đã đóng một vai trò quan trọng, cùng với những vị đại đệ tử khác, ở trong tầng lớp lãnh đạo của giáo đoàn do Ðức Thích Ca Mâu Ni dựng nên.
Nichiren Daishònin viết trong Gosho: "Tác phẩm nầy được gọi là Kinh Duy Ma Cật chỉ là một tùy tùng thứ yếu thấp xa dưới Kinh Pháp Hoa." Nói một cách khác, vì Kinh Duy Ma Cật chưa bao giờ vượt ra ngoài mức độ phê phán Tiểu Thừa, nó không bao giờ đến được chỗ cao vợi đại biểu nơi Kinh Pháp Hoa. Kinh Duy Ma Cật vì vậy chỉ được coi như một loại dẫn nhập vào Kinh Pháp Hoa, và đó là điều mà Nichiren Daishonin gọi là "tùy tùng."
Một số học giả coi Kinh Duy Ma Cật và Kinh Pháp Hoa là cùng một "gia đình" trong kinh điển Ðại Thừa. Nhưng Duy Ma Cật, người mà người ta nghĩ rằng phải vượt lên trên mối bận tâm của những sự phân biệt, dường như bị ám ảnh với sự khác biệt giữa lý tưởng Thanh Văn và Bích Chi của Tiểu thừa và lý tưởng Bồ Tát của Ðại Thừa. Sự không thể vượt qua những sự phân biệt đó tạo ra một vết rạn nứt chính trong Kinh Duy Ma Cật.
vị bồ tát làm lợi ích người khác như thế nào?
Phần thứ hai trong bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập, từ phẩm thứ năm đến phẩm thứ chín, đưa chúng ta vào căn phòng mười bộ của Duy Ma Cật. Bồ tát Văn Thù (Manjushri) thay mặt Phật đến thăm bịnh Duy Ma Cật. Có tám ngàn Bồ tát, năm trăm vị Thanh văn, và một trăm ngàn chúng trời cùng đi với ngài. Mọi người đều chắc chắn rằng những lời đối đáp giữa đức Văn Thù và Duy Ma Cật sẽ rất đáng nên nghe, và họ vây quanh náo nức chờ đợi.
Căn phòng Duy Ma Cật đang nằm chờ họ không có một thứ gì ngoài chiếc giường và chỉ rộng một trượng tức khoảng mười bộ. Nhưng đủ chỗ cho tất cả mọi người đến thăm. Ðiều nầy thật khó cho người duy lý bình thưòng có thể hiểu và chấp nhận.
Ngài Xá Lợi Phất cũng vậy, ở phẩm thứ sáu, chúng ta được biết ngài đã bối rối trước hiện tượng mà Duy Ma Cật nói với ngài: "Thưa ngài Xá Lợi Phất! chư Phật và Bồ tát có pháp giải thoát tên là Bất Tư Nghì. Khi Bồ tát trụ nơi pháp giải thoát đó, lấy núi Tu Di (Sumeru) để vào trong một hột cải vẫn không thêm không bớt. Lại nữa, hình núi Tu Di cũng không thay đổi, và trời tứ thiên vương và chư thiên cõi trời ba mươi ba (Ðao Lợi) cũng không biết là mình vào trong đó. Chỉ những người đáng độ được mới biết được rằng núi Tu Di vào trong hạt cải. Ðó gọi là pháp môn Bất Tư Nghì Giải Thoát."
Ðoạn kinh thật sự là một phô bày giáo lý Tánh Không (Sunyata) của Ðại Thừa. Những sự đối đáp giữa ngài Văn Thù và Duy Ma Cật cũng đặt nền tảng trên khái niệm tánh không nầy hay tính chất rổng không, hay vượt ngoài, mọi đặc tính có thể diễn tả. Trong phẩm thứ chín, tên là "Nhập Bất Nhị Pháp Môn," khái niệm nầy được thảo luận dưới nhiều góc cạnh, được diễn tả như "không có cũng không không có, không sinh cũng không diệt, không hữu vi cũng không vô vi." Ðó là tính Bất-Nhị không thể hiểu được bằng ngôn ngữ thông thường, cảnh giới nhất nguyên tuyệt đối.
Chính cảnh giới nầy mà Bồ tát dùng nhiều cách tu tập để đạt tới. Bây giờ chúng ta tìm xem những sự tu tập nầy gồm những gì. Ðể làm việc nầy, chúng ta trở về với Duy Ma Cật như ông được diễn tả trong phẩm thứ năm, "Thăm Bịnh." Ngài Văn Thù đến bên cạnh Duy Ma Cật hỏi vể tính chất của chứng bịnh. Duy Ma Cật trả lời với những lời lẽ tuyệt vời như sau:
"Do từ si mê sinh ra ái, từ đó mà bịnh tôi phát sinh. Vì tất cả chúng sanh bịnh, nên tôi bịnh. Nếu bịnh của chúng sanh không còn, thì bịnh tôi không còn. Vì sao? vì Bồ tát đi vào trong sanh tử vì lợi ích chúng sanh. Vì có sanh tử nên có bịnh. Nếu chúng sanh không còn bịnh thì Bồ tát không còn bịnh. Ví như ông trưởng giả chỉ có một người con. Nếu người con bịnh thì cha mẹ bịnh theo, nếu con lành bịnh thì cha mẹ lành bịnh. Bồ tát cũng như thế, thương tất cả chúng sanh như con. Nếu chúng sanh bịnh, thì Bồ tát bịnh, nếu chúng sanh lành thì Bồ tát lành. Ngài hỏi tôi: "Nguyên do từ đâu mà tôi bị bịnh?" Bịnh của Bồ tát là do tâm đại bi."
Chúng ta thấy rõ ràng rằng bịnh của Duy Ma Cật, không phải do từ sự mất điều hòa của cơ thể, mà ở bản chất thuộc về tinh thần. Thông thường một người khỏe mạnh không thể hiểu những nỗi khổ của người bịnh. Tuy nhiên ở đây chúng ta được trình bày cho thấy một công việc khó khăn hơn: không chỉ hiểu mà còn san sẽ những nỗi khổ của người khác và lấy đó làm nỗi khổ của mình. Ðức Phật được diễn tả là vẫn còn nỗi khổ bịnh và vô minh, mặc dù ít hơn chúng sanh bình thường nhiều. Lý do là vì Ngài chia xẻ những khổ đau và vô minh của kẻ khác, nhận lấy cho mình.
Tuy nhiên những tín đồ Tiểu thừa đã đánh mất tầm nhìn về tinh thần trong những giáo lý nguyên thủy của đức Thích Ca Mâu Ni và chỉ quan tâm đến sự hoàn thành việc tu tập cá nhân. Vì vậy Ðại Thừa khởi dậy với quan điểm đối nghịch để làm thăng bằng việc đó, lý tưởng Bồ tát tìm sự giác ngộ Phật Tánh qua việc lợi ích người khác. Ðể làm việc đó, trước tiên người đó phải đặt mình vào vị trí chia xẻ những đau khổ của người khác.
Duy Ma Cật tiếp tục với việc giải thích những hạnh của Bồ tát như sau: "Bồ tát quán sát các quốc độ Phật là hằng cữu và thoát ngoài sinh tử, ngài làm cho những quốc độ nầy phô bày mọi vẻ thanh tịnh cho chúng sanh được thấy - đó là hạnh của Bồ tát. Bồ tát cầu Phật quả, thuyết Pháp, nhập Niết bàn, ngài vẫn không bỏ đạo Bồ tát - đó là hạnh của Bồ tát."
Nghe những lời nầy của Duy Ma Cật, tám ngàn thiên tử đi theo ngài Văn Thù chứng Vô thượng Chánh giác.
Mục đích của đoạn kinh văn nầy là muốn làm sáng tỏ rằng vị Bồ tát, khi thực hành những pháp môn tu tập cho bản thân, cũng nổ lực tạo "quốc độ Phật" hay thế giới lý tưởng trong xã hội thực tiễn mình đang sống. Không giống với người tín đồ Tiểu Thừa, trong khi theo đuổi lý tưởng A la Hán, chỉ cố gắng để giải thoát bản thân thoát khỏi khổ đau và vô minh, vị Bồ tát an trú trong mức độ hiểu biết cao về Giáo Pháp, và từ chỗ nầy, cố gắng không ngừng trong việc tạo quốc độ Phật để làm lợi ích tất cả chúng sanh. Ðó là trách nhiệm cao cả của triết lý Ðại Thừa phó thác cho vị Bồ tát.
Ðể kết luận cuộc đàm thoại hùng hồn và thâm sâu giữa Duy Ma cật và ngài Văn Thù về bản chất của vị Bồ Tát, một thiên nữ trong gia đình của Duy Ma Cật đột nhiên xuất hiện rải hoa trời lên đại chúng. Những hoa nầy rơi đụng các vị Bồ tát thì rớt xuống đất, những hoa rơi đụng các vị Thanh văn thì bám dính vào họ. Xá Lợi Phất và và những đệ tử Thanh văn của Ðức Thích Ca Mâu Ni cố gỡ những hoa nầy nhưng không được.
Vị thiên nữ cười, hỏi ngài Xá Lợi Phất: "Tại sao ngài lại gắng sức rứt bỏ những hoa đó?"
Xá Lợi Phất trả lời: "Thiên nữ, tôi cố gắng rứt bỏ chúng vì những hoa nầy không thích hợp cho những người tu sĩ!"
Nhưng vị thiên nữ tự mình cũng có khả năng tranh luận với ngài Xá Lợi Phất, "vị đệ nhất trí tuệ" trong hàng đệ tử của Ðức Thích Ca Mâu Ni. Thiên nữ nêu ra rằng những đoá hoa tự chúng không có mối bận tâm về việc thích hợp hay không thích hợp. Rõ ràng chỉ vì ngài Xá Lợi Phất và những vị Thanh văn khác vẫn còn nuôi dưỡng những bận rộn và những dấu vết của tâm phân biệt rằng những hoa bám vào họ. Ðối với người tu Ðạo vẫn còn sợ hãi luân hồi, các căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân đều trở thành nguồn cội của vô minh, cửa ngõ để ma quỹ nhập vào.
Rõ ràng rằng vị thiên nữ đã thắng trong ván đầu. Tuy nhiên, ngài Xá Lợi Phất đã chế nhạo vị thiên nữ một cách không thông minh lắm. Ngài hỏi: "Thiên nữ, vì sao cô không chuyển đổi tướng nữ nhân?"
Thiên nữ trả lời bằng cách hiển lộ thần thông chuyển ngài Xá Lợi Phật bién thành tướng nữ, làm cho ngài rất khiếp đảm, và chuyển thân tướng mình thành thân tướng ngài Xá Lợi Phất.
Một lần nữa, cùng một vấn đề được nêu ra: Xá Lợi Phất, đại biểu cho quan điểm Tiểu Thừa, không thể ra khỏi lối suy nghĩ theo những phạm trù cứng nhắc. Quan điểm của Chánh Pháp, nhận chân tính bình đẳng của tất cả chúng sanh, dù nam hay nữ đều như nhau. Như lời thiên nữ nói, rút từ những lời dạy của đức Thích Ca Mâu Ni: "Trong tính bình đẳng của tất cả chúng sanh, không có tướng nam hay tướng nữ." Lối suy nghĩ của toàn đoạn văn rất gần với tư tưởng của phẩm mười hai trong kinh Pháp Hoa, trong đó, long nữ chuyển thành tướng nam và chứng Phật quả.
Một điểm cuối cùng xin ghi nhận là trong những đoạn nầy là sự nhiệt thành cầu giác ngộ của những ngưởi đến gặp Duy Ma Cật. Trong đó, có một vị cư sĩ với đức tin và trí tuệ sâu xa tên là Duy Ma Cật, vị cư sĩ nầy được sự ngưỡng mộ của tất cả nhựng người liên hệ với ông.
 

GIÁO LÝ BẤT TƯ NGHÌ

Kinh Duy Ma Cật thường được tán dương ở bố cục đầy kịch tính của nó, và chắc chắn sự chuyển đổi hình tướng một cách thú vị giữa thiên nữ và Xá Lợi Phất mà chúng ta vừa diễn tả là màn hài đáng lưu ý trong toàn bộ vở kịch. Trong chương tám, "Phật Ðạo," Duy Ma Cật và Bồ tát Văn Thù tranh luận sôi nổi vể vấn đề tánh giác ngộ của Phật, trong khi ở phẩm thứ chín, "Nhập Bất Nhị Pháp Môn, "ba mươi hai vị Bồ tát chứng được nhiều cảnh giới trong Bất Nhị Pháp môn.
Phẩm nầy thường được coi như điểm cao tột của kinh, vì nó chứa một câu bất hủ "sự im lặng của Duy Ma Cật, giống như tiếng nổ của sấm sét." Từng vị một, các Bồ tát trình bày quan điểm của mình về tánh chất của pháp môn bất-nhị. Nhưng đến phiên Duy Ma Cật, ông chỉ ngồi lặng yên. Như vậy ông đã bày tỏ bằng thái độ rằng cảnh giới bất-nhị luôn luôn bên trên và bên ngoài mọi ngôn ngữ, một nơi mà mọi tác động của tâm đều chấm dứt.
Ngài Văn Thù, tràn đầy ngưỡng mộ trước sự trả lời của Duy ma Cật, tán thán: "Hay thay! Hay thay! Cho đến không có văn tự ngữ ngôn, đó mới thật là nhập Bất Nhị pháp môn." Chúng ta được biết rằng năm ngàn vị Bồ tát lúc bấy giờ liền chứng vô sanh pháp nhẫn, một bậc giác ngộ cao hơn.
Phần cuối của Kinh, từ phẩm thứ mười đến phẩm thứ mười bốn, đề cập đến đức Phật tên Hương Tích ở cõi Chúng Hương, thuyết Pháp bằng cách dùng những mùi hương vi diệu.
Những tranh luận giữa Duy Ma Cật và Bồ Tát Văn Thù tiếp tục cho đến gần giờ trưa và ngài Xá Lợi Phật bâng khuâng về việc ngọ trai. Theo giới luật của các tăng sĩ thời bấy giờ, cấm không được ăn bất cứ thức ăn gì sau giờ ngọ. Ðiều mỉa mai là Xá Lợi Phật gia nhập đoàn thể tu sĩ để giải thoát khỏi những lo lắng và nhiễm ô trần thế lại lo lắng về bửa ăn trưa, người ta không thể ngăn được sự cảm thương đối với ngài. Duy Ma Cật nhận thấy điều đó, hỏi: "Ngài có nghĩ rằng ngài có thể nghe Pháp trong khi bận tâm về thực phẩm?" Ðó là một sự lưu tâm tử tế nhất, nhưng Duy Ma Cật nói tiếp thêm: "Nếu ngài muốn một thứ gì để ăn, xin hãy chờ một lát. Tôi sẽ dâng cho ngài thứ thực phẩm mà ngài chưa từng bao giờ nếm đến." Ông xin thỉnh một bữa ăn hương từ cõi Chúng Hương. Người sứ giả mà Duy Ma Cật gởi đến cõi Chúng Hương thấy mình ở trong một cảnh giới không ngôn ngữ và văn tự nào có thể diễn tả, nhưng Phật Pháp hoàn toàn được dạy bằng các loại hương thơm. Không có Thanh văn hay Bích chi trong cõi đó, những vị trí tuệ còn giới hạn trong Tiểu Thừa; cõi đó chỉ có toàn Bồ tát đạt đến sự thanh tịnh cao tột, các ngài chỉ sống bằng hương thơm.
Cõi Chúng Hương, mặc dù với những tính chất thần thoại của nó, được diễn tả một cách vô cùng sống động, và chúng ta thấy những năng lực tưởng tượng lớn lao của các tác giả Ðại Thừa. Bởi vì họ quan niệm Chánh Pháp là một thứ có thể khai mở và giải thích những bí ẩn của nguồn sống, họ có cảm tưởng rằng nó có thể trình bày dưới hình thức những cảnh giới hay cái thấy siêu vượt sự tưởng tượng thông thường của con người. Như vậy, để diễn tả Giáo Pháp không phải được trình bày bằng ngôn từ mà bằng các loại hương là một việc làm chấn động tâm thức để đi vào một thức giác siêu việt.
Ðoạn Kinh cũng tiếp tục nói rõ rằng, nhìn từ cõi Chúng Hương, thế giới của chúng ta là một nơi đầy tội lỗi và đồi bại, đây dẫy những chúng sanh với tâm linh nhì nhằn và có khuynh hướng về những mục tiêu thấp kém nhất, làm cho chư Phật và Bồ tát khó khăn trong việc hóa độ. Vì lý do nầy, chư Phật buộc phải dùng ngôn từ để dạy thay vì bằng các mùi hương, và chư Bồ tát phải sinh vào trong những cảnh giới thấp kém để chiến đấu một cách mãnh liệt và không ngừng trong việc khắc phục sự xấu ác.
Duy Ma Cật, khi nghe các vị Bồ tát ở cõi Chúng Hương nói như vậy, trả lời rằng các vị Bồ tát ở thế giới chúng ta có "mười điều thiện." Mười điều thiện nầy bao gồm những những hạnh mà các ngài tu tập. Những hạnh chính là sáu ba la mật, gồm bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, và trí huệ. Danh sách đơn giản những giới luật hay sự tu tập được xử dụng cho tín đồ Ðại Thừa có ý hướng tạo sự mâu thuẩn mạnh mẽ với 250 hay 500 giới dành cho các tu sĩ Tiểu Thừa.
Tám Ðiều sau đây mà vị Bồ tát tuân giữ trong đời sống tu hành ngày nay cũng là từ khuôn mẫu của ông. Vì Tám Ðiều nầy rất thiết thực về mặt đạo đức cho con người ngày nay, cả nam cũng như nữ giới, tôi xin trích ra đầy đủ:
1. Lợi ích chúng sanh mà không mong đền đáp.
2. Chịu mọi điều khổ thế cho chúng sanh.
3. Bao nhiêu công đức thành tựu đều hồi hướng cho chúng sanh.
4. Có lòng bình đẳng đối với chúng sanh, khiêm nhường đối với chúng sanh, không khởi tâm chướng ngại đối với chúng sanh. Ðối với Bồ tát, xem như Phật.
5. Những Kinh chưa nghe, nghe không nghi; không tranh luận với các vị Thanh văn.
6. Không ganh tỵ khi người khác được cúng dường, không kiêu căng với thu hoạch của mình, luôn kiểm soát tự tâm.
7. Thường xét lỗi mình, không nói điều xấu của kẻ khác.
8. Luôn giữ tâm không lay chuyển và tinh tấn trong mọi hạnh lành.
Nếu có người hết lòng trong việc làm lợi ích và cứu giúp người khác, người đó có thể thực hiện tám điều nầy. Người ta có thể thấy ngay rằng, ngược lại với những giới luật tiểu tiết và khắt khe của Tiểu Thừa, những điều nầy từ bản chất là những mục đích đạo đức rộng lớn trong việc hướng dẫn tư cách và hành động của một người.
Sau đó, Kinh một lần nữa trở lại với khu vườn Âm La (Pabapali), nơi đây lý lịch thật của Duy Ma Cật được cho biết thêm, và chấm dứt với sự phó chúc bản Kinh cho ngài Di Lặc (Maitreya) và A Nan (Ananda).
Tên khác của Kinh Duy Ma Cật là Bất Tư Nghì Giải Thoát, và chắc chắn nhân vật Duy Ma Cật, như được diễn tả trong Kinh, đầy những sự bí ẩn và kỳ diệu. Ông đại biểu cho lý tưởng cư sĩ tại gia như được định hình từ hai ngàn năm trước.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét