Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

PHẬT HỌC CHỈ NAM - CẢM NGHĨ, CẢM TÁC VỀ BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH

Chương 5

CẢM NGHĨ, CẢM TÁC VỀ BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH

般 若 波 羅 蜜 多 心 經 
 
Không phải là Phật tử, mà đọc sách Phật giáo, suy tư về Phật giáo đối với tôi có một thích thú riêng. Thích thú là vì mình không bị lệ thuộc vào môn phái nào, nhân vật nào, đoàn thể nào, mà được hoàn toàn suy tư theo mình, nhận xét theo mình, viết lách theo mình, phát biểu ý kiến theo mình, được quyền bất đồng ý kiến với bất kỳ ai, dù là những vị đại sư thượng thặng. Hai nữa là mình không ở trong tư thế lập ngôn, lập thuyết, nên chẳng tranh đấu cho ai, cũng chẳng cưỡng bách được ai theo ý của mình, chẳng qua chỉ là muốn «đàm đạo». Cho nên quý vị độc giả khi đọc bài này có chê tôi là dốt, là nông cạn, là tà ma ngoại đạo, hay là cái chi chi chăng nữa, tôi cũng chẳng quan tâm. Còn nếu thấy nó ứng hợp với quan điểm của quý vị, với tâm tư, nguyện vọng của quý vị, thì tôi cũng coi là một chuyện dĩ nhiên, vì «đồng thanh tương ứng» đâu phải là kỳ lạ. Với một tâm tư bình thản như vậy, tôi sẽ trình bày các quan điểm của tôi về kinh Bát Nhã. Tôi đến với kinh Bát nhã cũng như là do một cơ duyên. Năm 1986, trong khóa giảng của tôi về Kinh Dịch và Đạo giáo Đông phương, tôi đã trình bày về các môn phái Triết học Phật giáo với các học viên trong khoảng 20 chiều Chủ nhật. Khi tôi sắp chuyển sang để dậy về Lão giáo, thì có một học viên, hết sức uyên thâm về Phật giáo, đã yêu cầu tôi giảng kinh Bát Nhã. Tôi vui vẻ nhận lời. Sáng hôm sau, tôi lấy kinh Bát Nhã ra đọc, và lập tức cảm tác ra thành 12 bài thơ tứ tuyệt (bài thứ 13 mới làm sau đây).
Dưới đây, tôi sẽ sao chép lại để cống hiến quý vị. Tôi dùng chữ cảm tác, chứ không dùng chữ phiên dịch, để tránh mọi sự gò bó, trói buộc. Và từ từ, tôi sẽ mượn «cọng cỏ» sắc tướng làm phương tiện, để cùng quý vị, như Đạt Ma sư tổ, lướt trên sóng nhân duyên, sinh tử; dùng năng lượng siêu vi của Tuệ Giác, để sang tới «bờ bên kia»; từ «tâm phan duyên» sang tới «tâm Niết Bàn Nguyên thanh tịnh thể» theo lời kinh Lăng Nghiêm; hay sang tới «Tâm bên kia» mà kinh Bát Nhã đặc biệt gọi là Tâm Ba La Mật Đa; mà kinh Lăng Già gọi là Như Lai Tạng; mà các kinh điển Phật giáo còn gọi bằng nhiều danh hiệu đa đoan như: Như Lai giới, Như Lai tính, Phật tính, Tự tính thanh tịnh tâm, Phật giới, Như Lai Pháp giới thân, Trừng tịch thanh tịnh đích tâm, Bát Nhã, Niết Bàn, Bản Lai Diện Mục, v.v... Kinh Hoa Nghiêm còn gọi cái Tâm siêu việt ấy một cách bóng bẩy là Lầu Các Tì Lô. Nó cũng được Long Thọ Bồ Tát gọi là Trung Đạo; Pháp tướng tông gọi là Duy Thức; Tam Luật Tông gọi là «Bát Bất»; Thiên Thai Tông gọi là Thực tướng; Hoa Nghiêm Tông gọi là Pháp Giới...  Cái Tâm Bát Nhã ấy chính là mục phiêu tìm kiếm của chúng ta, và cũng là đề mục của bài này.

HAI TÂM CỦA MỘT CON NGƯỜI 

Trước khi đi vào kinh Bát Nhã, đi vào Tâm Bát Nhã, chúng ta cần có một cái nhìn khái quát về hai thứ tâm trong một con người, tìm ra tương quan giữa hai thứ tâm đó, tìm ra chướng ngại vật ngăn cách hai thứ tâm đó rồi tìm ra đường hướng, phương tiện, để đi từ Tâm chúng sinh, từ phàm tâm tới tâm Phật, tâm Bát Nhã.
Nói rằng con người có hai thứ Tâm, thực ra không phải là phát minh riêng tư của tôi, mà chính là di giáo của Phật tổ, đã được lưu truyền qua kinh sách.
Kinh Lăng Nghiêm viết: «Phật bảo A Nan: Từ muôn kiếp tới nay, chúng sinh như bị lao lung điên đảo, các nghiệp chướng sinh ra đầy dẫy như trái ác xoa. Còn những người tu hành chẳng thành được vô thượng bồ đề lại thành ra bậc thanh văn, duyên giác, và các thứ ngoại đạo, các Trời, và ma vương, ma quyến, đều là vì không biết HAI THỨ CĂN BẢN, tu luyện cuồng xiên, thác loạn y như đòi nấu cát thành cơm, thì có đến ngàn muôn kiếp cũng chẳng được.
«Thế nào là hai thứ căn bản, hỡi A Nan! Một là CĂN BẢN TỬ SINH từ muôn kiếp, y như nay ngươi và chúng sinh lấy TÂM VỌNG TƯỞNG làm Tự Tính.
«Hai là CĂN BẢN NIẾT BÀN NGUYÊN THANH TỊNH THỂ đó ở nơi người, chính là THỨC TINH NGUYÊN MINH có thể sinh ra vạn duyên vạn sự mà đã bị trần duyên làm mất bỏ. Cũng vì chúng sinh đã BỎ MẤT cái CĂN NGUYÊN SÁNG LÁNG ấy cho nên hàng ngày tuy vẫn luôn luôn dùng mà chẳng tự biết được nó, rồi ra lặn lội, đắm đuối vào các thú vui, uổng phí cả cuộc đời.» [1]
Ta có thể gọi CĂN BẢN SINH TỬ là VỌNG TÂM, PHÀM TÂM; CĂN BẢN NGUYÊN THANH TỊNH THỂ là CHÂN TÂM, là BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM, hay BỔN TÂM.
Chân tâm thời viên dung, hằng cửu; vọng tâm thời khuy khuyết biến thiên. Chân tâm, Ba La Mật Tâm vì siêu xuất trên hình thức, sắc tướng, nên cũng chính là KHÔNG, là Tịch Diệt, là Niết Bàn. Ta có thể mô tả CHÂN TÂM này bằng bốn chữ THƯỜNG, LẠC, NGÃ, TỊNH. Thường là vĩnh cửu, bất biến, trường tồn; Lạc là hạnh phúc; Ngã là bản thể, thực thể; Tịnh là thanh tịnh. Còn VỌNG TÂM có thể được mô tả bằng những chữ VÔ THƯỜNG, KHỔ, VÔ NGÃ, UẾ TẠP.
Nói theo danh từ triết học bây giờ thì CHÂN TÂM chính là BẢN THỂ, VỌNG TÂM chính là HIỆN TƯỢNG.
Lăng Nghiêm kinh bình tiếp rằng: «Bỏ mất Bản Tâm, mà nhận lầm duyên trần, nhận vật làm mình, nhận giao động biến thiên làm Chân Tâm, chân cảnh, thì làm sao mà chẳng bị quay cuồng trong ngọn lốc luân hồi lưu chuyển.» [2]
Không ý thức được quan niệm căn bản ấy, đã mất CHÂN TÂM, BẢN TÂM rồi, thì dẫu «có đem thân xuất gia, lòng vẫn chẳng nhập đạo, chẳng khác nào đứa con bỏ cha ra đi, ắt bị lao lung khổ ải. Tu trì như thế làm sao mà chứng quả được, cũng ví như nghe người nói chuyện uống ăn, thì làm sao mà no được.» [3]
Có một điều rất là ly kỳ, là thường chúng ta chỉ biết có VỌNG TÂM, mà không hề biết rằng mình có CHÂN TÂM. Lấy một ví dụ hàng ngày cho dễ hiểu. Trong nhà tôi có tivi, có nước, có gaz, có điện. Mở tivi là coi được vô số đài, điện thời chỗ nào cũng có; xài gaz, xài nước ê hề. Tuy nhiên, những hình ảnh những âm thanh trên tivi của tôi, không phải do tivi tôi mà có, mà từ những đài truyền hình từ xa chuyển tới; điện tôi dùng trong nhà không phải từ tường nhà tôi sinh ra, mà do từ nhà máy điện dẫn tới; gaz lẫn nước cũng vậy. Như vậy thì những niệm lự, những hình ảnh trong tâm hồn tôi phát xuất trong tâm tư tôi, trong đầu não tôi cũng từ một nguồn mạch huyền diệu tung tỏa ra, mà nào tôi có biết, có hay? Nếu tôi muốn tìm cho ra các đài truyền hình, nhà điện hay nhà gaz, thì tôi phải mất công, phải mất thì giờ tìm kiếm. Cũng một lẽ, muốn tìm cho ra BẢN TÂM, TÂM BÁT NHÃ của tôi, tôi lại càng phải tốn công phu hơn nhiều. Tìm ra TÂM BÁT NHÃ cũng còn được gọi là phát BỒ ĐỀ TÂM. Suzuki cho rằng: Phát Bồ Đề Tâm không phải là biến cố trong một ngày, vì nó đòi hỏi một cuộc chuẩn bị trường kỳ, không phải trong một đời, mà phải qua nhiều đời. Đối với những người chưa từng tích tập thiện căn, TÂM đó vẫn đang ngủ vùi...  [4]
Chủ trương của Phật giáo chính là: Con người hữu hạn hàm tàng Chân Như vô hạn. Như vậy, phương châm và mục đích tu luyện đã được vạch rõ:
Từ VỌNG TÂM, VỌNG NGÃ, ta sẽ phát huy ĐẠI NGÃ mênh mông vô tận [5]; từ trong sắc thân phàm tục, ta sẽ cố phát huy Pháp Thân siêu việt; từ trong phàm thân dễ bị hủy hoại, ta sẽ cố phát huy KIM CƯƠNG THÂN bất khả tiêu diệt; từ trong u minh, ta sẽ làm bừng sáng lên ngọn đuốc CHÂN TÂM.
Chữ «diệt ngã», hiểu cho đúng đắn, sẽ là phá tan mọi hình tướng, để tìm cho ra CHÂN TÍNH (khiển tướng chứng tính) [6]; làm tan biến mọi nhỏ nhen ti tiện cho Quang Minh Chính Đại hiển hiện ra [7]; mục đích tối hậu là hòa hợp với Chân Như Tuyệt Đối [8], hòa hợp với Bản Thể Tuyệt Đối. Thế là đi từ hữu vi, hữu lậu trở về Vô Vi, Vô Lậu; rũ bỏ hết mọi phiền trược buộc ràng, để sống ung dung tự tại, vứt bỏ mọi giả tạm, để tìm ra Chân thực trường tồn (khiển hư tồn thực) [9]; bỏ tạp thù để giữ lấy thuần túy (xả lạm, lưu thuần) [10]; bỏ ngọn ngành chi mạt, để trở về gốc gác căn nguyên (nhiếp mạt, quy bản) [11].
Bây giờ ta có thể dùng một hình vẽ đơn giản là ba vòng tròn đồng tâm, để tượng trưng cho ba tầng lớp trong con người, từ trong ra ngoài là: 
1. Chân tâm hay Bát Nhã Ba La Mật Đa tâm.
2. Vọng tâm.
3. Thân xác 
Giữa Chân tâm và Vọng tâm ta vẽ thêm một vầng đen, tượng trưng cho bức màn Vô minh, hay «biển Vô minh».
Lập tức ta thấy hiện ra hai bờ:
1. Bờ bên này, là bờ sinh tử luân hồi, bờ sinh, lão, bệnh, tử; bờ khổ đau. Bờ bên này là thế giới vọng tâm, vọng ngã, là bờ của chúng sinh..
2. Bờ bên kia là bờ bất biến, hằng cửu, bình đẳng tuyệt đối, bất tăng, bất giảm, bất cấu, bất tịnh, là thế giới của chư Phật, là thế giới của Ba La Mật Đa tâm.
Từ bên này muốn sang tới bờ bên kia, phương tiện duy nhất là phóng khai Tuệ Giác, thi triển Tuệ Giác, mà Tuệ Giác tiếng Phạn là Bát Nhã. Cho nên con thuyền Bát Nhã mà ta dùng để vượt biển Vô minh, chính là Tuệ Giác vậy. Ngoài ra còn phải thu thần, định trí, nhiếp tâm, vô niệm v.v..
Với những ý niệm khái quát đó là tiên phong, ta có thể đi vào kinh BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM.
 

BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH

 Bát Nhã Tâm Kinh là một kinh hết sức vắn. Trong bản Hán dịch của Huyền Trang, nó chỉ gồm có 262 chữ. Mục đích của nó chỉ bàn về Chân Tâm mà thôi.
Nó chỉ có một mục đích là phơi bầy cho chúng ta thấy Chân Tâm vi diệu, và khẩn khoản mời mọc chúng ta bước vào Chân Tâm ấy. Chính vì thế nó là kết tinh của bộ kinh Đại Bát Nhã vô cùng lớn lao, và cũng là kết tinh của Phật giáo.
Vì nó quá ngắn, nên tôi xin viết ra đây cả phần phiên âm Hán văn, mà nhiều vị độc giả có thể nói là thuộc như cháo chẩy. 
Kinh mở đầu bằng câu:
Quán Tự Tại Bồ Tát, hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời.
觀 自 在 菩 薩, 行 深 般 若 波 羅 蜜 多 時.
Các bản dịch thường là như sau: Khi Bồ Tát Quán Tự Tại (Avalokistevara) thực hành Bát Nhã Ba La Mật Đa sâu xa. [12]
Khi đọc bản dịch đến đây, tự dưng lòng tôi thấy dâng lên một nỗi niềm chua xót, là thấy chỉ có Bồ Tát Quán Tự Tại, hay là Bồ Tát Quán Thế Âm mới có thể thực hành Bát Nhã Ba La Mật Đa sâu xa, còn chúng ta hết thẩy lại bị gạt ra ngoài. Nên riêng tôi thấy có gì không chỉnh, và tôi tự động hiểu theo lối dốt nát của tôi là: bất kỳ ai, nếu thực hành được Bát Nhã Ba La Mật, cũng có thể vào được Chân Tâm.
Tôi lại có cái tật là không nệ văn tự, kinh sách, ỷ y vào câu: «Phật thị tâm tác. Mê nhân hướng văn tự trung cầu; ngộ nhân hướng tâm nhi giác.» [13]
Tôi liền phóng tác lại như sau:
Buông thuyền Bát Nhã tếch bờ mê
Bến Giác Bên Kia thoắt đã kề
Tịch diệt Niết Bàn đây há phải
Tự Tại Căn Nguyên, chứng Bồ Đề. 
Tôi nhất quyết không dịch, mà chỉ mong đạt được vi chỉ của kinh. Hôm tôi đem trình bày quan điểm của tôi về hai câu này trong lớp, có mấy vị Phật tử, mấy vị cư sĩ có vẻ bất mãn về lối nhìn của tôi, nhưng sau khi nghe phân trần, lại theo quan điểm của tôi.
Thú thật là khi tôi giải thích hai câu trên, mới đầu là do tự tâm của tôi, không hề bị ảnh hưởng của sách. Sau khi thấy có sự bất đồng quan điểm, tôi mới về khảo lại sách, để xem lập trường mình có thể đứng vững hay không. May mắn là trong tay tôi có quyển TÂM KINH TƯỜNG CHÚ của Vô Tích Đinh Phúc Bảo Trọng Hữu soạn năm Trung Hoa Dân Quốc thứ 9 (1920), chú giải kinh văn hết sức là tinh tường, tôi liền đọc xem lời giải thích của ông ra sao.
Ông bình về mấy chữ Quán Tự Tại Bồ Tát như sau: «Theo bản dịch của Diêu Tần Cưu Ma La Thập và bản dịch của Đường Pháp Nguyệt, thì đều giải là Quan Thế Âm Bồ Tát. Theo bản dịch của Đường Trí Tuệ Luân, thì giải là Quán Thế Âm Tự Tại. Nhưng theo bản Đường Thích Tịnh Mạn tâm kinh chú sớ, lại cho rằng tất cả các vị Đại sĩ đều có khả năng như vậy. Và giải «Quán Tự Tại» là Nhìn thấy rằng chư pháp là không, và không vướng mắc vào cảnh giới nào, thực hiện được TẤT CẢNH KHÔNG; quan đạt được TỰ TẠI, TỰ TẠI VÔ NGẠI..» [14]
 
Quán tự tại 觀 自 在
Như vậy thực ra không khác với lối nhìn của tôi, khi cho rằng QUÁN TỰ TẠI BỒ TÁT là một người đại trí đã nhìn thấu thấy CĂN NGUYÊN, BẢN THỂ của mình. Đó là điều kiện tất yếu để vào được Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm.
Thế nào là «hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời»? Đó chính là khi tâm linh trừng triệt, dùng thần lực của «tâm vô lậu» của trí huệ Bát Nhã mà vượt lên trên mọi hình danh sắc tướng; thu nhiếp được vọng tâm; tiêu trừ mọi vọng niệm; làm cho vạn duyên tan biến thành hư vô, và cũng là khi «vô chứng, vô đắc», «vô trụ»; là khi vượt ngoài phân biệt, chấp trước, thanh tịnh tuyệt đối; viên dung, bình đẳng, nhất nhất, như như...
Thế là từ nay chúng ta đã xa lìa Tâm Chúng Sinh, mà vào được Tâm Phật, Tâm Bát Nhã.
Vì thế nên, theo tôi, từ đây sắp xuống là chỉ bàn về Tâm Bát Nhã Ba La Mật.
Như đã nói trên, ngũ uẩn là như những vừng mây che lấp Chân Tâm, nên vào Chân Tâm rồi, thì còn gì là Ngũ Uẩn. Khổ đau là gia tài của Tâm Sinh Diệt. Chúng ta đã vào Chân Tâm, thì làm gì còn chuyện khổ đau. Vào tới đây, mới thấy tuy là nơi «tất cánh không», nhưng cũng là nguồn suối sinh ra mọi cảnh sắc, và cũng là nguồn suối mạch của THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC, của Vọng Tâm sau này. Ý thức như khi ta lên ngọn nguồn, chúng ta mới chứng kiến được rằng muôn sông, nghìn suối cũng là từ đây phát xuất ra. Nói theo triết học hiện đại, thì Bản Thể tuy là Không Tịch, nhưng cũng chính là gốc nguồn của muôn vàn Hiện Tượng sau này. Hiện tượng khi còn nằm trong lòng Bản Thể, thì vẫn là Bản Thể, nào có gì sai khác đâu? Cho nên kinh viết tiếp:
Chiếu kiến ngũ uẩn giai không,                          照 見 五 蘊 皆 空
Độ nhất thiết khổ ách.                                         度 一 切 苦 厄
Xá Lợi tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc;    舍 利 子, 色 不 異 空, 空 不 異 色
Sắc tức thị không, không tức thị sắc.                  色 即 是 空, 空 即 是 色
Thụ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.         受 想 行 識 等 亦 復 如 是 
Tôi phóng tác như sau:
Chiếu soi ngũ uẩn, thấy toàn không.
Khổ ách từ nay hết vân mòng.
Này này Xá Lợi hay chăng tá?
Sắc không vốn một, há đôi dòng! 
Sắc không vốn một, há đôi dòng,
Mới hay Không, Sắc vốn hồn dung.
Thọ, Tưởng, Hành, Thức trông kỹ lại
Cũng nào có khác với Chân Không. 
Vì Chân Tâm, vì Bát Nhã Ba La Mật Đa tâm là tâm vô phân biệt, nên vĩnh cửu trường tồn, siêu xuất trên luân hồi sinh tử; siêu xuất lên trên vòng tương đối, tương đãi của hiện tượng biến thiên, nên không tăng, không giảm, không dơ, không sạch. Dĩ nhiên là như vậy. Nên kinh viết tiếp:
Xá Lợi tử, thị chư pháp không tướng, bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. 舍 利 子, 是 諸 法 空 相, 不 生, 不 滅, 不 垢, 不淨, 不 增, 不 減.
Tôi phóng tác:
Xá Lợi, có hay cái Tướng Không,
Không sinh, không diệt, chẳng vân mòng
Không dơ, không sạch, không tăng giảm,
Ấy chính là nơi Tất Cảnh Không. 
Chúng ta đã phân biệt Bát Nhã Ba La Mật Đa tâm, là Chân Tâm, là Bản Thể; còn Vọng Tâm là Hiện Tượng. Chỉ có Hiện Tượng mới có sắc tướng; chỉ Vọng Tâm mới có thọ, tưởng, hành, thức; mới có lục căn (nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý), mới tiếp xúc với lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), mới có tầm nhìn, lối nghĩ; mới ở trong vòng sinh, lão, bệnh, tử; mới muốn thoát vòng sinh, lão, bệnh, tử; chỉ có Vọng Tâm mới phải nhận thức rằng mình đang mắc vòng Vô Minh; mới cố tìm cách diệt Vô minh; mới phải có những phương tiện để diệt khổ, mới phải dùng trí Bát Nhã để đắc Đạo, để trở về Chân Tâm. Nhưng một khi đã vào Chân Tâm, vào cảnh giới vô phân biệt, an nhiên, tự tại, thì khỏi phải bận tâm ngay cả đến «trí», đến «đắc» nữa. Vì vậy kinh viết tiếp:
Thị cố Không trung vô sắc,                   是 故 空 中 無 色
Vô thụ, tưởng, hành, thức,                    無 受 想 行 識
Vô nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý,               無 眼 耳 鼻 舌 身 意
Vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.    無 色 聲 香 味 觸 法
Vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới,      無 眼 界 乃 至 無 意 識 界
Vô vô minh, diệc vô vô minh tận,          無 無 明 亦 無 無 明 盡
Nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận.     乃 至 無 老 死 亦 無 老 死 盡
Vô khổ, tập, diệt, đạo.                          無 苦 集 滅 道
Vô trí, diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố.      無 智 亦 無 得 以 無 所 得 故 
Tôi phóng tác:
Ấy chính là nơi Tất cảnh không,
Cho nên vô sắc, với vô tung,
Thọ, tưởng, hành, thức đều không có,
Nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý: không.
Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp đâu?
Lục trần vì vậy hết đương đầu.
Nhìn ra: Không Tịch; suy: Vô Niệm!
Vô minh quét sạch, mới nhiệm mầu
 *
Vô minh quét sạch hết không còn
Vào nơi Viên Giác, hết đa đoan,

Hết già, hết chết, không bệnh hoạn

Khổ, Tập, Diệt, Đạo cũng tiêu luôn.
 *
Vào nơi vô tận, chứng vô biên
Viên giác vời trông sáng mọi miền
Hết Trí, hết còn chi để Đắc!
Thiệt lạ lùng thay Tính Bản Nhiên. 
Tuy nhiên đắc quả Bồ Đề rồi, phải lo độ chúng sinh. Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm có lời thệ nguyện:
Như nhất chúng sanh vị thành Phật,
Chung bất ư thử thủ Nê Hoàn [15]
(Như một chúng sinh chưa thành Phật,
Lòng đây nguyền chẳng nhập Niết Bàn
Thực là một tình yêu bao la, một lòng từ bi vô hạn lượng. Chính vì vậy mà kinh viết tiếp:
Bồ Đề Tát Đỏa 菩 提 薩 埵 
Tôi phóng tác:
Bồ Đề: Phật đạo đã viên thành
Tát Đỏa: Phát tâm độ chúng sinh
Phát tâm phổ độ vô hạn lượng
Tự lợi, lợi tha thế mới tình.
 Khi vào được Chân Tâm, vào được Tâm Bát Nhã Ba La Mật Đa, là sẽ được an nhiên, tự tại; không còn bị «tử, sinh, kinh, cụ» làm nau mấylần, không còn có những cái nhìn lộn lạo, đảo điên; không còn mộng tưởng, vì đã ở trong Thực Tại, Thực Tướng, vì Bản Thể là Niết Bàn. Vì thế kinh viết tiếp:
Y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố,            依 般 若 波 羅 蜜 多 故
Tâm vô quái ngại.                             心 無 罣 礙
Vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố,   無 罣 礙 故 無 有 恐 怖
Viễn ly điên đảo, mộng tưởng           遠 離 一 切 顛 倒 夢 想
Cứu cánh Niết Bàn.                          究 竟 涅 槃 
Tôi phóng tác: 
Bến Giác một khi đã tới rồi,
Tâm hết lo lường, hết chơi vơi
Xa rời điên đảo, xa mộng tưởng
Niết Bàn cứu cánh đã tới nơi.
 Kinh tán dương công dụng vô biên của sự thấu triệt vi diệu về Tâm Bát Nhã. Thấu triệt vi diệu về Tâm Bát Nhã Ba La Mật Đa, liễu ngộ Chân Tâm nơi chính bản thân mình, là chứng được Vô Thượng Bồ Đề. Chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai không có hiểu biết nào khác, phương tiện nào khác, quả vị nào khác. Vì thế Kinh cho rằng: Hết thẩy chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai, đều y cứ vào Bát Nhã Ba La Mật Đa, mà chứng đắc giác ngộ viên mãn, tối thượng. Vì vậy, nên biết Bát Nhã Ba La Mật là đại thần chú, là chú của đại minh huệ, là thần chú cao tuyệt, thần chú vô giá, có thể trừ diệt hết mọi khổ đau; đó là chân lý vì không sai lầm...  
Tam thế chư Phật y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu, Tam Bồ Đề. 三 世 諸 佛 依 般 若 波 羅 蜜 多 故, 得 阿 耨 多 羅 三 藐 三 菩 提.
Cố tri Bát Nhã Ba La Mật Đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.
故 知 般 若 波 羅 蜜 多, 是 大 神 咒, 是 大 明 咒, 是 無 上 咒, 是 無 等 等 咒, 能 除 一 切 苦, 真 實 不 虛.
 Tôi phóng tác:
Chư Phật xưa nay ấy chốn nơi,
Bát Nhã Ba La thật tuyệt vời
Bát Nhã Ba La là thần chú
Bao nhiêu sầu não cũng tiêu vơi. 
Kinh kết thúc bằng một câu thần chú: Đây là thần chú được công bố trong kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa: Gate, gate, paragate, parasamgâe, bodhi, svaha! (Này Bodhi, đi qua, đi qua, qua bờ bên kia, qua đến bờ bên kia, Svaha) [16]. (Ở Việt Nam, cũng có nhiều người hiểu câu chú này như sau: «Qua đi, qua đi, qua bờ bên kia đi, hoàn toàn qua bờ bên kia đi, thì có Bồ Đề. Ngài khéo nói như vậy.»)
Vì thế kinh viết tiếp:
Cố thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa chú tức thuyết chú viết:
故 說 般 若 波 羅 蜜 多 咒 即 說 咒 曰:
Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.
揭 諦 揭 諦, 波 羅 揭 諦, 波 羅 僧 揭 諦, 菩 提 薩 莎 訶. 
Tôi phóng tác:
Bát Nhã Ba La ấy Chân Như
Đều là Chân thực, chẳng ngoan hư,
Diệu quyết nắm tròn, thành thần chú
Đọc lên trời đất chuyển rung chừ:
* 
Minh giác từ xưa, ấy hỡi ai
Hãy băng, hãy vượt cảnh trần ai
Hãy mau sang tới bờ Viên Giác,
Phật quả viên thành đã chắc rồi.
 
BẠT 
Vịnh chữ Tâm của kinh Bát Nhã 
Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm
Là Tâm Bát Nhã, là Tâm Bồ Đề.
Tâm này trong vắt lưu ly,
Khách trần phiền não làm gì nổi đâu.
Tâm này trong vắt một mầu,
Vạn duyên câu tuyệt, vô cầu, vô tranh.
Không yêu, không ghét đã đành,
Không màng thiện ác, không dành thị phi.
Vô niệm, vô sở đắc chi,
Người rằng: «Giải thoát», người thì: «Bờ kia»!
Tâm không trước tướng mới kỳ,
Tâm vô sở trụ, siêu vi diệu huyền.
Ấy Tâm Thanh Tịnh Bản Nguyên
Ấy Tâm Phật tổ đã truyền Ma Ha.
Ấy tâm, chính tổ Đạt Ma,
Tâm truyền sang xứ Trung Hoa sau này.
Bồ Đề Tâm đích Tâm đây,
Niết Bàn Tâm cũng Tâm này chẳng sai.
Bát Nhã Tâm Kinh nguyên lai,
Đem Tâm này chỉ rạch ròi trước sau.
 
VỊNH CHỮ KHÔNG 
Học Phật phải rành một chữ Không
Chữ Không biến hòa, diệu nan cùng
Không tâm, vô trước, là đắc đạo
Nhiếp tâm, thành Phật, hiển thần thông.
* 
Không: có Giả không, có Chân không
Giả Không: Sắc tướng cũng một dòng.
Chân Không diệu hữu là chân thực
Thể nhập Chân Không phúc vô cùng.
* 
Những gì cấu tạo bởi nhân duyên
Đều là hư ảo, chẳng vững bền
Tỉnh giấc hoàng lương, nơi phù thế,
Duyên tan: tưởng có hóa không liền!
* 
Bát Nhã giảng Tâm lại giảng Không
Thanh văn, Duyên giác thẩy mơ mòng,
Vào tới Chân Không, Chân bản thể,
Một hay sắc tướng thẩy đều không.
* 
Đã đành sắc tướng thẩy đều không,
Nhưng mà Không Sắc vốn hồn dung,
Khổ hải, Niết Bàn vô phân biệt
Thượng thừa Bất nhị Pháp môn thông.

CHÚ THÍCH
[1] Thủ Lăng Nghiêm (TLN) quyển 1 Việt Nam Phật tử hội (VNPTH) xuất bản tr. 22, 23 - Linh Sơn (LS) Phật học nghiên cứu hội, tr. 55- 56.
[2] TLN, VNPTH, tr. 36 – LS tr. 80.
[3] TLN, VNPTH, tr. 28, 29 – LS, tr. 66 – 67.
[4] Daisetz Teitaro Suzuki, Thiền luận, quyển hạ (Tuệ Sỹ dịch – Đại Nam) tr. 310.
[5] Thích Đạo Quang, Đại cương Triết học Phật giáo, tr. 55.
[6] lb. Tr. 93- 94.
[7] lb. Tr. 56, 94.
[8] lb. Tr. 56, 94.
[9] lb. Tr. 93.
[10] lb. Tr. 93.
[11] lb. Tr. 3.
[12] Suzuki dịch ra Anh văn như sau: «The Bodhisattva Avalokitesvara, while engaged in the practice of profound Prajnaparamita, perceived that the five aggregates are empty of «self-existence», thus he overcame the sufferings and troubles.» (D.T. Suzuki, Garma Chan & E. Conze).
[13] Vô Tích Đinh thị tàng bản, Tâm kinh tường chú (19200), tr. 7a.
[14]) lb. 12 b và tiếp theo.
[15] Đoàn Trung Còn, Phật Học Từ điển, q. 1, tr. 322 nơi chữ Nê Hoàn, và Thủ Lăng Nghiêm, cuối quyển 3.
[16] Suzuki, Thiền luật tập hạ (Tuệ Sỹ dịch - Đại Nam) tr. 330.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét