THIỀN TẬP TRONG PHẬT GIÁO
Con Ðường Dẫn Ðến Nội Tâm Vắng Lặng Và Minh Mẫn
Pháp
hành thiền là trung tâm điểm và phần nòng cốt của
Giáo Pháp mà Ðức Phật truyền dạy. Ðề tài rộng mênh
mông, nơi đây sẽ thảo luận về vài sắc thái của
thiền tập trong Phật Giáo liên quan đến Tứ Niệm Xứ
(Satipatthàna), "sự áp đặt hay gắn chú niệm vào."
Thế gian ngày nay không còn giống như ở vào nửa
thế kỷ về trước. Quan niệm về những gì tốt và
những gì xấu đã thay đổi nhanh chóng, thái độ tinh
thần đối với những gì hợp đạo lý và những gì không
hợp lẽ đạo luôn luôn chuyển biến, và cái nhìn
chung vào con người cũng trở nên khác biệt nhiều.
Chúng ta đang sống trong thời đại hối hả, gắp
rút và nhanh chóng. Căng thẳng, ở đâu và nơi nào
cũng căng thẳng. Nếu đứng ở một góc đường nhộn
nhịp và nhìn kỷ sắc mặt của người qua kẻ lại luôn
luôn vội vã hấp tấp, quý vị sẽ nhận thấy rằng phần
lớn những người ấy có vẻ lăng xăng lộn xộn, nghĩ
ngợi lo âu, không có mấy người thấy thoải mái. Họ
mang theo với họ bầu không khí căng thẳng. Phần
lớn họ là hình ảnh của lo âu và rộn rịp. ít khi ta
gặp hình ảnh tĩnh lặng, hài lòng và ngơi nghỉ. Ðó
là thế gian hiện đại.
Ðặc điểm của thế gian ngày nay là hối hả vô
trật tự, dẫn đến quyết định nhanh chóng và hành
động kém thận trọng. Người ta la to nói lớn trong
khi có thể ăn nói nhỏ nhẹ bình thường, và có những
người rối rít bồn chồn, nóng nảy tung ra cả tràng
những lời lẽ giận dữ để rồi mệt nhừ khi câu chuyện
kết thúc. Ðứng về phương diện sinh lý học, bất
luận kích thích nào cũng làm căng thẳng thần kinh,
và thần kinh căng thẳng khơi động, đẩy mạnh sinh
hoạt của cơ thể. Ta thường thấy một người lái xe
tỏ ra bực dọc khi vừa đến ngã tư thì đèn xanh cũng
vừa tắt và đèn vàng bật cháy. Người có tánh nóng
nảy xem một diễn biến nhỏ nhặt như một khủng hoảng
quan trọng, một hăm dọa. Rốt cùng, con người lo âu,
bất toại nguyện và vô phúc.
Một đặc điểm khác của thế gian hiện đại là ồn
ào. Người ta nói rằng "âm nhạc có tánh cách hấp
dẫn" nhưng ngày nay, chí đến cái âm nhạc ấy cũng
không làm vừa tai đẹp ý nếu nó không nhộn nhịp ồn
ào. Ðối với họ, tiếng ồn càng to thì càng có nhiều
"âm nhạc tính", nhạc càng "hấp dẫn". Những ai
trong chúng ta đang sống trong thành phố lớn không
còn thì giờ để nghĩ đến tiếng ồn. Cuộc sống của
chúng ta đã bị điều kiện hóa, bị uốn nắn theo
khuôn khổ của nó. Chúng ta đã trở nên rất quen
thuộc với tiếng ồn. Tình trạng ồn ào, nhộn nhịp và
căng thẳng ấy làm tổn hại sức khỏe nhiều và gây
nên những chứng bịnh như đau tim, ung thư, ung
nhọt, thần kinh và mất ngủ. Phần lớn các chứng
bịnh của chúng ta phát sanh do những trạng thái lo
âu, phiền muộn, những cơn chấn động thần kinh, tâm
trí căng thẳng vì tình trạng kinh tế, và tinh thần
luôn luôn bị kích thích, không mấy khi an tĩnh --
tất cả đều là sản phẩm của cuộc sống hiện đại.
Với cuộc sống lúc nào cũng hối hả vội vàng,
thần kinh của con người mệt mỏi, sớm kiệt quệ.
Chuyện thường xảy ra là sau ngày làm việc người ta
trở về nhà với tâm thần mệt mỏi. Do đó sự chú tâm
suy giảm và có làm việc gì, bằng chân tay hay trí
óc, cũng không được công hiệu như thường. Người ta
dễ bị kích động và nhanh chóng tìm lỗi ở kẻ khác,
kiếm chuyện gây gổ. Bao nhiêu chuyện dồn dập quay
trở vào trong, gây nên đau mỏi, áp xuất huyết tăng
cao, và mất ngủ. Những triệu chứng thần kinh mệt
mỏi ấy rõ ràng chứng tỏ rằng tâm của con người
hiện đại cần phải được an nghỉ -- một tình trạng
an nghỉ có phẩm chất ở mức cao.
Chúng ta nên nhận thức rằng rút tâm rời ra khỏi
những phiền toái của cuộc sống rộn rịp và tịnh
dưỡng tinh thần là nhu cầu thiết yếu để giữ tâm
lành mạnh. Mỗi khi có được cơ hội, hãy cố gắng
thoát ra khỏi thành phố rồi ngồi lại trầm tư mặc
niệm. Gọi đó là hành pháp du dà (yoga), chú niệm,
hay hành thiền cũng được. Hãy tập giữ im lặng. Im
lặng đem lại rất nhiều lợi ích. Nghĩ rằng chỉ có
những người ồn ào, ham nói, và lúc nào cũng lăng
xăng lộn xộn mới là dũng mãnh thì quả thật là sai
lầm. Im lặng là vàng, và chúng ta chỉ nên nói khi
nào lời nói bổ ích hơn im lặng. Chính trong sự im
lặng mà những năng lực vĩ đại nhất được un đúc rèn
luyện. Giữ im lặng rất là quan trọng. Trong khi
hành thiền ta giữ im lặng. Sau đây là lời dạy của
Ðức Phật:
"Này chư tỳ khưu, khi các con tụ hợp thì
có hai điều nên làm: hoặc là thảo luận về Giáo
Pháp (Dhamma, giáo huấn của Ðức Phật, hay giáo
lý chân chánh), hoặc giữ im lặng." [1]
Giá Trị Của Lối Sống ẩn Dật
Vì đã quen thuộc với tiếng động và chuyện trò
nên lúc nào không nói chuyện thì người ta cảm nghe
cô đơn quạnh quẽ. Nhưng nếu chúng ta tự rèn luyện
"nghệ thuật trau giồi im lặng", ta sẽ học được bài
học thỏa thích với im lặng.
Hãy lặng lẻ tiến bước giữa cảnh ồn ào nhộn nhịp
và luôn luôn ghi nhớ rằng có trạng thái an lạc
trong im lặng. Chúng ta phải rời bỏ cuộc sống phồn
hoa đô hội và rút vào ẩn dật để tìm im lặng. Thỉnh
thoảng chúng ta phải tự tách rời ra khỏi cảnh nhộn
nhịp quây cuồng để sống tĩnh lặng. Ðó là hình thức
nhàn lạc của kiếp sinh tồn. Trong nếp sống ẩn dật
cô đơn chúng ta sẽ chứng nghiệm giá trị của những
giờ phút trầm lặng. Chúng ta mở một cuộc hành
trình vào trở lại bên trong. Khi ẩn rút vào im
lặng ta sẽ tuyệt đối đơn độc để nhìn trở vào chính
mình, nhìn vào thực chất của chúng ta, thấy chúng
ta đúng như thật sự chúng ta là vậy. Và chừng đó
ta có thể học được phương cách vượt qua những
khuyết điểm và những giới hạn của cuộc sống bình
thường.
Thời gian mà chúng ta lặng lẽ trải qua lúc hành
thiền không phải là hoang phí. Về lâu về dài trên
đường xa, công trình tu tập này sẽ tạo cho con
người một bẩm tánh dũng mãnh. Nếu có thể tìm thì
giờ để tự rút rời ra khỏi những việc làm hằng ngày
và bỏ ra một hay hai ngày để yên tĩnh hành thiền
thì điều đó rất lợi ích cho việc làm thường nhật
cũng như cho sự tiến bộ của ta. Ðây chắc chắn
không phải là đào tẩu nhiệm vụ hay quen thói ăn
không ngồi rồi, mà là phương cách tốt đẹp nhất để
tăng cường tâm trí và phát triển tinh thần. Ðó là
nhìn trở vào bên trong chính mình, và lối nhìn này
mang lại nhiều lợi lạc. Chính nhờ quan sát những
tư tưởng và những cảm thọ của mình mà ta có thể
quán chiếu sâu vào ý nghĩa của sự vật và khám phá
những hùng lực bên trong.
Con người hiện đại rất thiếu nếp sống đơn độc.
Chút ít thì giờ sống yên tĩnh một mình mỗi ngày,
chút ít giờ phút xa lìa, chút ít giờ phút tách rời
ra khỏi "đám đông cuồng loạn", rất là thiết yếu để
giữ tâm trí quân bình, cái tâm trí mà từ lâu đã
lâm bịnh vì hối hả quây cuồng, vì ồn ào huyên náo,
vì va chạm, vì tranh đua, trong cuộc sống hiện đại.
Chính ở trong tình trạng đơn độc, và xuyên qua
tình trạng đơn độc, mà tâm thần con người tăng
thêm mức độ dũng mãnh. Hình như con người hiện đại
mưu tìm hạnh phúc ở bên ngoài mình, thay vì ở
trong. Họ hướng ngoại, nhưng hạnh phúc không tùy
thuộc nơi thế gian bên ngoài. Nền văn minh hiện
đại không phải là cái gì thuần túy tốt đẹp, một
phước lành không có pha lẫn. Con người hình như đã
chế ngự thế gian bên ngoài. Khoa học và kỹ thuật
hình như hứa hẹn có thể biến đổi thế gian này
thành một thiên đàng. Từ mọi hướng người ta không
ngưng hoạt động để làm cho thế gian trở nên tốt
đẹp hơn. Các khoa học gia hết lòng nhiệt thành,
quyết chí theo đuổi những phương pháp và những
cuộc thí nghiệm. Nỗ lực của con người nhằm vén lên
bức màng bí mật bao trùm và che kín thiên nhiên
vẫn tiếp tục bất khuất. Những khám phá và những
phương pháp truyền thông ngày nay đã tạo được
nhiều thành quả ly kỳ. Tất cả những cải thiện trên,
mặc dầu đã mang lại nhiều lợi ích khả quan, hoàn
toàn thuộc về ngoại cảnh và chỉ liên quan đến phần
vật chất. Mặc dầu đã thành tựu tất cả những ưu
điểm kể trên, con người vẫn chưa kiểm soát được
cái tâm của mình -- vẫn chưa trở nên tốt hơn, dầu
đã tạo được bao nhiêu tiến bộ khoa học. Bên trong
luồng trôi chảy của tâm và cơ thể vật chất (danh
và sắc) có những kỳ diệu mà các nhà khoa học có
thể còn phải bỏ ra nhiều năm nữa để khám phá.
Người ta cố tìm giải pháp cho những vấn đề khác
nhau của mình, nhưng thất bại vì phương pháp và
đường lối giải quyết sai lạc. Họ tưởng rằng tất cả
vấn đề đều có thể giải quyết từ bên ngoài. Nhưng
phần lớn các vấn đề nằm bên trong con người, không
phải ở ngoại cảnh. Vấn đề phát xuất từ thế gian
bên trong và như vậy, giải pháp cũng phải tìm ở
bên trong.
Chúng ta có nghe những người hằng chú trọng đến
các nạn ô nhiễm lên tiếng, chống lại ô nhiễm không
gian, ô nhiễm biển cả, ô nhiễm đất đai v.v...
Nhưng còn tâm ô nhiễm của chúng ta thì sao? Chúng
ta có quan tâm đến việc bảo vệ và gội rửa tâm của
chúng ta không? Ðức Phật dạy:
"Ðã từ lâu, tâm
của con người bị tham, sân, si làm ô nhiễm. Bợn
nhơ tinh thần làm cho tâm của chúng sanh ô nhiễm.
Gội rửa tâm làm cho chúng sanh trong sạch."[2]
Lối sống của người Phật tử là một tiến trình
tích cực thanh lọc thân, khẩu, ý. Ðó là tự trau
giồi, tự phát triển và tự thanh lọc, nhằm tự mình
chứng ngộ. Ðiểm chánh yếu là thành quả thâu đạt
chớ không phải ở lối tranh luận về triết học hay
trừu tượng hợp lý. Do đó, cần phải thực hành hằng
ngày, hành thiền mỗi ngày một ít, giống như gà mái
ấp trứng, bởi vì cho đến nay chúng ta thường hành
động như con sóc chạy vòng quanh, lẩn quẩn trong
cái lồng.
Pháp hành thiền không phải là một pháp môn mới
có từ hôm nay hay ngày hôm qua. Từ ngàn xưa đã có
nhiều người hành thiền, bằng nhiều phương cách
khác nhau. Các vị du dà (yogi), các bậc Thánh Nhân
và các đấng Giác Ngộ trong các thời đại đều phải
trải qua con đường hành thiền. Các Ngài đã chứng
đắc và thành tựu Ðạo Quả nhờ hành thiền, tức pháp
hành nhằm trau giồi tâm trí. Chưa hề bao giờ có sự
phát triển tâm trí hay gội rửa bợn nhơ tinh thần
nào mà không nhờ hành thiền. Chính nhờ hành thiền
mà Ðức Siddhattha Gotama (Sĩ-đạt-đa Cồ-đàm) chứng
ngộ Ðạo Quả Vô Thượng, Chánh Ðẳng Chánh Giác, trở
thành Phật.
Pháp hành thiền không phải chỉ dành riêng cho
người Ấn Ðộ, xứ Ấn Ðộ hay cho thời kỳ Ðức Phật còn
tại thế, mà cho tất cả nhân loại, tất cả mọi thời
đại và, khắp mọi nơi. Thiền tập không thể có giới
hạn về chủng tộc, tôn giáo, không gian hay về thời
gian.
Tất cả tôn giáo đều có giáo truyền một vài hình
thức hành thiền, hay phương pháp luyện tâm, để cho
hàng tín đồ trau giồi tâm trí. Những hình thức này
có thể là im lặng tụng niệm, từng cá nhân hay tập
thể đọc tụng "Thánh Kinh", hoặc chú niệm một đề
mục, một nhân vật hay một ý niệm thiêng liêng.
Người ta tin tưởng rằng những công trình trau giồi
tâm trí ấy đôi khi đưa đến kết quả là nhìn thấy
các vị Thánh Nhân hoặc các đấng Thiêng Liêng, và
có thể hầu chuyện cùng các Ngài, nghe được tiếng
nói lạ thường, đôi khi cũng xảy ra vài diễn biến
huyền bí. Nói rằng đó là ảo tưởng, là do trí tưởng
tượng tạo nên, là cái gì chỉ biểu hiện trong tâm,
là một hình ảnh do tiềm thức biến chế, hay đó là
những hiện tượng thật sự có, ta không thể xác
quyết một cách chắc chắn. Tâm là một năng lực vô
hình có thể gây nên tất cả những hiện tượng trên.
"Trạng thái xuất thần của một vài vị du dà và
các đạo sĩ huyền bí có thể được đưa đi xa đến đổi
trong khi ấy các vị đó không còn hay biết gì,
không còn cảm giác điều gì." [3] Chúng ta đã từng
thấy có người đang ngồi trong tư thế "hành thiền"
mà tâm thần mê mang, hình như không còn biết gì
hết. Có người cũng mục kích những cảnh tượng kỳ lạ
và lầm tưởng rằng đó là một hình thức hành thiền (bhàvanà).
Kinh điển Phật Giáo ghi nhận rằng do
sự đắc
thiền (jhàna), nhờ phát triển các năng lực
tinh thần, con người có thể đắc thần thông. Tuy
nhiên, và đây là điểm rất quan trọng nên ghi nhận
nằm lòng:
Jhàna hay "Thiền" trong Phật Giáo không
phải là trạng thái mê sảng hay tự thôi miên, mà
là một trạng thái tâm trong sạch, đã chế ngự và
đè nén khát vọng, điều phục những thúc giục có
tánh cách gây xáo trộn và làm cho tâm trở nên
vắng lặng và an trụ, tập trung vào một điểm, và
nhập vào trạng thái sáng tỏ, minh mẫn, thấy rõ
sự vật.
Pháp hành thiền trong Phật Giáo không nhằm hội
nhập với một đấng Tối Thượng, cũng không nhằm
thành đạt những chứng nghiệm huyền bí, mà nhằm
thành tựu
trạng thái tâm vắng lặng (samatha)
và
tuệ minh sát (vipassanà), tiến đến mục
tiêu duy nhất là
tâm giải thoát không lay
chuyển (akuppà ceto vimutti) -- tình trạng
châu toàn tối thượng vượt hẳn ra ngoài mọi trói
buộc, bằng cách tận diệt toàn vẹn những bợn nhơ
tinh thần.
Không phải tất cả mọi người đều có khả năng để
tiến đạt đến đỉnh cao cùng tột của tâm giải thoát
không lay chuyển, nhưng thất bại không quan trọng,
ngày nào mà chúng ta còn thành thật trong nỗ lực
và trong sạch trong ý chí. Chúng ta hãy cố gắng
lên, tinh tấn thêm, không nên chùng bước. Ðây là
công trình đáng cho ta cố gắng, cố gắng nữa, để
hoàn mãn viên thành. Rồi một ngày nào, nếu không
phải trong kiếp sống này, chúng ta có thể đạt đến
mức tận cùng mà những vị tiền bối đã tận lực tinh
tấn đạt đến, và đã thành công.
Dầu không thể chứng ngộ toàn giác, chắc chắn nỗ
lực của chúng ta cũng sẽ được tưởng thưởng. Trong
một xã hội không ngừng chuyển động nhanh chóng, ta
cần phải hành thiền đôi chút để làm dịu bớt tình
trạng thần kinh căng thẳng và nhẫn nại chịu đựng
những thăng trầm của cuộc sống. Do nhờ hành thiền
chúng ta có thể vượt qua phần lớn các vấn đề tâm
lý khó khăn hay những xáo trộn cơ thể do tâm trí
gây nên, những xáo trộn tâm linh, những cảm xúc và
những thúc giục, và thành tựu trạng thái tâm tĩnh
lặng và thanh bình an lạc mà chúng ta hằng ước
vọng.
Tự
Làm Chủ Lấy Mình và Ma Túy
Ðức Phật dạy:
"Dầu có thể chinh phục cả
triệu người ở chiến trường, tuy nhiên, quả thật
vậy, chiến thắng vẻ vang nhất là tự chinh phục
mình." [4] Ðiều này có nghĩa là tự chủ [5], tự
làm chủ lấy mình, làm chủ những cảm kích, những
xúc động, những ưa thích và ghét bỏ v.v... Lời của
thi hào Milton chỉ là vang âm của những gì Phật
dạy: "Tự điều khiển lấy mình là nắm quyền bá chủ
vương quốc vĩ đại nhất mà con người có thể ước
vọng, và cùng thế ấy, để cho những khát vọng điều
khiển mình là làm nô lệ một cách tệ hại nhất."
Tự kiểm soát mình là chìa khóa để mở cửa vào
hạnh phúc. Ðó là năng lực nằm phía sau mọi thành
tựu thật sự. Hành động mà thiếu kiểm soát ắt không
đưa đến mục tiêu nhất định nào. Chỉ vì con người
không kiểm soát được phần tâm linh mình nên bị đủ
mọi thứ xung đột phát sanh trong tâm. Và nếu những
xung đột ấy cần phải được kiểm soát, hoặc nữa, cần
phải được loại trừ, con người phải kềm chế những
tham vọng và những thích thú riêng tư của mình, cố
gắng sống đời tự chủ và trong sạch. Mọi người đều
biết lợi ích của thể thao, hay công trình rèn
luyện cơ thể. Tuy nhiên, con người không phải chỉ
là thể xác. Chúng ta còn có cái tâm, và tâm cũng
cần phải được rèn luyện. Luyện tâm, hay hành thiền,
là cái chìa khóa mở đường dẫn đến tự chủ, đến
trạng thái thoải mái, và thoải mái đem lại hạnh
phúc. Trong tất cả năng lực, tâm lực công hiệu
hùng mạnh nhất. Chính tâm lực tự nó là năng lực.
Ðể thấu đạt bản chất thật sự của đời sống ta phải
khảo sát tận tường, đào sâu vào những hóc hẻm sâu
kín bên trong nội tâm. Ðiều này chỉ có thể thực
hiện được bằng cách nhìn trở vào sâu bên trong
mình, một công trình khảo sát đặt nền tảng trên
giới đức trong sạch và thiền tập.
Theo quan điểm của Phật Giáo, tâm hay thức là
phần nòng cốt của kiếp nhân sinh. Tất cả những
kinh nghiệm như đau khổ và thích thú, buồn và vui,
thiện và ác, sống và chết, đều đến với ta không
phải do nguyên lý ngoại lai nào. Nó chỉ là hậu quả
của những tư tưởng và những hành động của chúng ta.
Chính hành động cũng xuất phát từ tư tưởng. Do đó
trong guồng máy phức tạp của con người, tâm là yếu
tố vô cùng quan trọng.
Trong thời gian gần đây người ta gia công khảo
sát và nghiên cứu những hiện tượng tâm linh, và
hình như công trình tìm học ấy đã khám phá những
tài nguyên phong phú của tâm mà từ lâu còn bị che
dấu. Con người ngày càng nóng lòng tìm sự hướng
dẫn tinh thần và ước muốn phát triển nội tâm. Ðó
là dấu hiệu tốt. Người phương Tây càng ngày càng
thích thú nghiên cứu tư tưởng Ấn Ðộ, pháp hành du
dà (yoga) và pháp hành thiền. Không cần phải tìm
lý do ở đâu xa lạ. Có một cảm giác bất an tâm ngày
càng tăng trưởng cùng khắp năm châu, và cảm giác
bất an này càng nổi bật trong giới trẻ. Người
thanh niên muốn có nhanh chóng một phương thuốc
chữa trị bịnh rối loạn quây cuồng của thế gian vật
chất. Họ đi tìm an lạc và vắng lặng.
Không có một giải pháp thỏa đáng cho vấn đề
thanh niên ngày nay trong hệ thống tín ngưỡng cổ
truyền lấy tín điều làm nền tảng. Câu hỏi về thế
giới nội tâm không được giải đáp. Ðối với tâm trí
tìm tòi, giá trị mà người ta đặt vào những sắc
thái vật chất của đời sống, vốn được con người
hiện đại xem là hiển nhiên phải có, hình như quá
nông cạn. Ðiểm trọng yếu trong những vấn đề của
người phương Tây là phần tâm lý. Kiến thức về vật
chất, khoa học và kỹ thuật hiểu biết "phải làm thế
nào" rõ ràng không đem lại câu giải đáp cho vấn đề
thế gian, vấn đề con người. Loại hiểu biết này chỉ
đưa đến tình trạng tạo thêm nhiều vấn đề khác.
Những bạn trẻ, trước kia dùng chất ma túy với lòng
tin tưởng rằng đó là giải đáp cho những bất mãn
của họ, nay đã quay về kỷ luật du dà và thiền tập.
Trong công trình đi tìm nội tâm vắng lặng các loại
ma túy chắc chắn không phải là cái gì có thể thay
thế pháp hành thiền chân chánh. Ma túy chỉ làm
giảm suy tâm lực, thay vì tăng trưởng.
"Thế gian bị phủ vây tứ bề và bị tấn công từ
mọi phía do một chứng bịnh mới, một chứng bịnh
không thể chữa trị đối với phần lớn những người bị
nhiễm độc và rất đông bịnh nhân đã bỏ mạng; một
chứng bịnh truyền nhiễm hứa hẹn đưa bịnh nhân thả
hồn vào thế giới mơ mộng thần tiên, rời xa cuộc
sống (mà họ nghĩ là) vô chí hướng và vô giá trị;
một chứng bịnh mà trên hết đe dọa giới trẻ trong
thời đại kỹ thuật chúng ta: bịnh ghiền ma túy.
Hàng triệu thanh niên đã mắc chứng bịnh ấy, hàng
ngàn chắc chắn không thoát khỏi phải yểu mạng,
hàng trăm ngàn đã ghiền nặng, hoặc về phương diện
tâm lý phải tùy thuộc vào các thứ thuốc nhẹ hơn
như cần xa, làm hao mòn trí não, giảm suy khả năng
làm việc và đưa đến tan rã tâm tánh..." [6]
Có những trường hợp hiển nhiên, không còn tranh
luận gì nữa, cho thấy rằng pháp hành thiền có thể
tạo nên những biến chuyển sinh lý, và biến chuyển
sinh lý này đưa đến những biến đổi lợi ích về mặt
tâm lý. Người ta gia công đo lường các biến chuyển
này. Bác Sĩ Herbert Benson đã dày công trắc nghiệm
pháp hành thiền trong gần một thập niên, đã đặc
biệt quan tâm tìm xem làm thế nào những yếu tố có
tách cách tâm lý lại có thể gây ảnh hưởng đến trái
tim, đến áp xuất huyết và những sắc thái khác
trong hệ thống tuần huờn máu huyết. Quan niệm về
những công trình nghiên cứu của ông được trình bày
trong tác phẩm The Relaxation Response. Những cuộc
khảo sát của Havard University, Cambridge, U.S.A.
tiết lộ rằng hàng trăm thanh niên trước kia dùng
thuốc L.S.D. và ma túy, đã cay thuốc sau nhiều
tháng gia công hành thiền. [7]
Hành Thiền Chữa Trị Căng Thẳng
Hành thiền không phải là tình nguyện tự lưu đày
ra khỏi đời sống; cũng không phải làm điều gì để
nhận lãnh hậu quả trong một kiếp sống vị lai.
Thiền tập phải được áp dụng vào cuộc sống hằng
ngày, và kết quả của công phu này phải được thọ
hưởng nơi đây, trong hiện tại. Hành thiền không
phải là tự mình tách rời, lìa xa những công việc
mà thường ngày mình vẫn làm, mà là một phần của
đời sống, là cái gì dính liền với cuộc sống. Ðiều
này trở nên rõ ràng khi chúng ta nghiên cứu pháp
Tứ niệm xứ (satipatthàna), hay bốn nơi để ta đặt
chú niệm vào. Khi đã thoát lìa ra khỏi tình trạng
hối hả rộn rịp của thành phố và những phiền toái
bực dọc của thế gian, chúng ta không còn bị ngoại
cảnh thúc giục buông lơi việc kiểm soát tâm như
trước. Trong cuộc sống dấn thân vào xã hội ta phải
cần nhiều cố gắng hơn nhằm canh chừng những lúc hờ
hửng để tâm buông lung. Chút ít thì giờ nào hành
thiền cũng giúp ích ta rất nhiều trong việc đối
phó với các diễn biến của đời sống một cách bình
tĩnh. Nếu chúng ta không biết hành thiền cuộc sống
sẽ thiếu ý nghĩa, thiếu mục tiêu và thiếu nguồn
gợi cảm.
Có một thời nào nhiều người tưởng rằng thiền
tập là một pháp môn chỉ dành riêng cho các đạo sĩ
ẩn dật, các vị du dà và những người sống trong
rừng sâu thanh vắng. Nhưng sự vật đã đổi thay.
Hiện nay càng ngày càng có đông người thích thú
lưu tâm đến thiền tập. Nếu hành thiền có nghĩa là
kỷ luật tinh thần hoặc là phương pháp trau giồi
tâm trí thì khỏi phải nói, tất cả mọi người, không
phân biệt nam nữ, màu da, tín ngưỡng, hay bất luận
lối phân chia nào khác, đều nên hành thiền. Xã hội
tân tiến hiện đại đang lâm vào hiểm họa tự trầm
mình trong những tình trạng vọng động và những
quyến rũ mà chỉ có cách phải gia công kiên trì rèn
luyện tâm tánh mới mong kiểm soát được.
Quả thật rất khó ngoảnh mặt xây lưng, tách rời
ra khỏi lối suy tư xưa cũ và những tác phong mà từ
lâu đã trở thành rất quen thuộc với ta. Tuy nhiên,
pháp hành thiền có thể giúp ta đặt nhẹ xuống gánh
nặng của cuộc sống xáo trộn và vọng động. Mục tiêu
cùng tột của thiền tập trong Phật Giáo là chứng
ngộ toàn giác, hoàn toàn tự chủ và tâm trí tuyệt
đối lành mạnh, hay Niết Bàn, bằng cách điều phục
tâm và gội rửa tận cùng những bợn nhơ tinh thần.
Nhưng, ngoài mục tiêu cứu cánh cùng tột ấy còn có
những lợi ích mà hành giả có thể thọ hưởng. Thiền
tập có thể gợi nguồn cảm hứng cho ta khám phá
trạng thái sáng suốt minh mẫn, tình trạng phong
phú dồi dào và phẩm cách thiên nhiên của chính ta.
Hành thiền cũng có thể giúp ta khơi dậy những năng
lực tiềm tàng ngủ ngầm trong tâm, giúp ta suy tư
sáng suốt, hiểu biết thâm sâu, thoa dịu tình trạng
thần kinh căng thẳng, giữ tâm trí cân bằng và an
tĩnh. Hành thiền là một tiến trình sáng tạo nhằm
biến đổi những cảm xúc vọng động và những tư tưởng
bất thiện thành trạng thái tinh thần điều hòa và
trong sạch. Ðây là phương thức trị liệu có nhiều ý
nghĩa nhất cho những vấn đề khó khăn của cuộc sống
hiện đại. Khi tâm đã được rèn luyện theo pháp hành
thiền ta có thể tri giác sự vật vượt ra ngoài tầm
mức thông thường của giác quan. Chúng ta có thể
thành đạt tất cả những lợi ích trên, không phải
cùng một lúc hay trong tức khắc, mà dần dần, bằng
cách thường xuyên hành thiền theo đúng phương pháp.
Hơn nữa, hành thiền còn có những lợi ích cho cơ
thể. Thiền tập có thể làm dịu bớt thần kinh, kiểm
soát hoặc hạ giảm áp xuất huyết, có thể làm cho ta
cảm nghe thoải mái dễ chịu và hăng say hoạt động
bằng cách thoa dịu tình trạng căng thẳng thần kinh
và do đó gìn giữ năng lực, có thể giúp ta cải
thiện sức khỏe và an vui. Ngành y học nhận định
tánh cách công hiệu của pháp hành thiền như bài
viết dưới đây cho thấy: "Ngày nay người ta đã
chứng minh rằng bịnh áp xuất huyết cao và những
chứng bịnh khác liên quan đến tim có thể được chữa
trị bằng pháp hành thiền của Phật Giáo. Bác Sĩ
Buddhadasa Bodhinayake, Cố Vấn ngành tâm lý của
bịnh viện Harley Hospital Essex, UK (Anh Quốc), và
là Giáo Sư Ðở Ðầu những sinh viên sau thời kỳ tốt
nghiệp cử nhân của Tổng Công Ðoàn Y Học Anh Quốc,
có phận sự bổ nhiệm các bác sĩ tại vùng Ðông Luân
Ðôn, nói rằng Hội British Cardiac Society mới đây
vừa công nhận ảnh hưởng của pháp hành thiền Phật
Giáo trong việc trị bịnh. Bác Sĩ Bodhinayake tuyên
ngôn rằng hiện nay (1982) có 68,000 bịnh nhân
người Anh đang thực hành pháp
Niệm Hơi thở (Ànàpànasati).
Họ thấy rằng pháp hành thiền này chữa trị họ nhiều
hơn là thuốc. Ông nói rằng tất cả mọi tôn giáo đều
có thực hành thiền định, nhưng pháp Niệm hơi thở (Ànàpànasati)
chỉ duy nhất có trong Phật Giáo. Không phải như
các pháp hành khác, pháp này có ảnh hưởng đến cả
hai phía của bộ óc, và như vậy, có thể đem lại
những ảnh hưởng kỳ diệu cho người bịnh. Ông nói
rằng 30 phút hành thiền -- 15 phút buổi sáng và 15
phút buổi chiều -- làm cho người bịnh an thần ngơi
nghỉ bằng 6 hay 7 tiếng ngủ.
"Ngày nay khoa học đã chứng minh, qua pháp
electro-encepholograph (EEG), đọc những sinh hoạt
được ghi lại của bộ óc, cho thấy rằng pháp hành
niệm hơi thở, Ànapanasati, có khả năng giúp hai
phía của bộ óc sinh hoạt điều hòa. Ðiều này làm
giảm bớt nhu cầu về dưỡng khí của người bịnh, giảm
bớt sức đập của tim, áp xuất huyết, và hơi thở.
Mười lăm phút hành Ànàpànasati có ảnh hưởng
bằng ba liều Aldomat (250mg), thuốc chữa trị bịnh
áp xuất huyết cao. Bác Sĩ Bodhinayake nói cũng đã
được chứng minh rằng pháp hành này có thể dùng để
cay nghiện ma túy. Nó cũng giúp nhiều cho việc mở
mang tâm não, khả năng suy tư và trí nhớ.
"Hiện nay tại Harvard University, Hoa Kỳ, có
một số lớn sinh viên hành pháp niệm hơi thở,
Ànàpànasati bhàvana, để luyện thi." [8]
Phật Giáo và Thần Bí Giáo
Vài xáo trộn cơ thể do tâm thần gây nên cũng có
thể được chữa trị bằng pháp hành thiền. Chúng ta
có thể dùng thiền tập để chữa trị các chứng bịnh
phát sanh do xúc động mạnh hoặc tinh thần căng
thẳng cũng như bịnh ghiền ma túy. Hành thiền, an
dưỡng tinh thần, và một vài phương thức trị liệu
khác có thể được áp dụng hữu hiệu vào việc chữa
trị các chứng bịnh kinh niên.
Hành thiền là một lối sống. Ðó là lối sống toàn
vẹn, chớ không phải là một phần sinh hoạt của đời
sống. Pháp này nhằm phát triển toàn thể con người.
Chúng ta hãy tận lực cố gắng để tiến đạt đến mức
độ toàn hảo, nơi đây và trong hiện tại, chớ không
phải đợi chờ đến một thời kỳ vàng son nào trong
tương lai. Có thể chúng ta sẽ thành đạt những gì
mình thật sự ước muốn trong đời sống, bằng cách
tháo mở, phóng thích những năng lực tinh thần bên
trong ta, những năng lực kỳ diệu của nội tâm. Hành
thiền rõ ràng là một hiện tượng của kiếp nhân sinh
và như vậy, phải được đề cập đến dưới khía cạnh
con người, với những cảm thọ và những hiểu biết
của con người. Bản chất của những vấn đề khó khăn
của con người và giải pháp cho những vấn đề ấy
trọng yếu thuộc về tâm lý. Pháp hành thiền thật sự
và thần bí giáo không cùng tồn tại chung. Ðó là
hai việc khác biệt. Trong khi chủ thuyết thần bí
đưa con người tách rời xa thực tại thì thiền tập
đem ta đến thực tại; bởi vì xuyên qua pháp hành
thiền chân chánh ta có thể diện đối diện nhìn vào
những ảo kiến của chính ta và những ảo cảnh mà ta
cho là thực, nhìn một cách rõ ràng, không bị che
lấp, không sai lạc. Ðiều này biến đổi hoàn toàn
con người chúng ta. Ðây không phải là học thêm, mà
là tháo gỡ, bứt rời ra những gì đã học. Ta phải
dứt bỏ nhiều điều đã học trước kia và đã thích thú
ôm ấp vững chắc, một khi nhận thức rằng những điều
ấy chỉ là trở ngại, cản ngăn con đường tiến bộ
tinh thần đạo đức.
Tất cả những vấn đề khó khăn của chúng ta đều
bắt nguồn từ vô minh, si mê lầm lạc.
Vô minh là
ô nhiễm đứng hàng đầu (avijjà paramam malam)
[9]. Tham, sân, ngã mạn và rất nhiều ô nhiễm khác
của chúng ta cùng đi chung với vô minh.
Giải pháp cho vấn đề phải nằm trong vấn đề và
do đó, không nên tách rời, chạy đi tìm ở đâu ngoài
vấn đề. Hãy phân tách và khảo sát, nghiên cứu đến
tận cùng, ta sẽ thấy rằng tất cả những vấn đề ấy
đều là vấn đề của kiếp nhân sinh, của con người,
vậy không nên đỗ trách nhiệm cho ai khác hơn là
con người. Những vấn đề của chúng ta phải được, và
chỉ được giải quyết bằng cách dứt bỏ những ảo kiến
và những khái niệm sai lầm, rồi thu xếp nếp sống
vào khuôn khổ, điều hòa và đồng nhịp với thực tại.
Ðiều này chỉ có thể thực hiện bằng pháp hành thiền.
Bát Chánh Ðạo
Tự kềm chế không dùng chất say và kiên trì tinh
tấn, củng cố vững chắc trong hạnh nhẫn nhục và
trong sạch, người thiện trí gia công rèn luyện tâm.
Khi mà mọi sự việc quanh mình đều diễn tiến tốt
đẹp, thuận chiều theo ý, thì giữ thái độ trầm tĩnh
không phải là khó lắm. Nhưng giữa những nghịch
cảnh rối ren bất thuận lợi, thì quả thật rất khó
mà có thể điềm nhiên tọa thị, giữ tâm bình thản,
không chao động. Chính việc khó làm ấy mới đáng
cho ta cố gắng thành tựu, bởi vì chính những điều
ấy mới un đúc tâm tánh hùng dũng.
Nhờ tu tập yên tĩnh hành thiền mà có thể thành
đạt trạng thái tâm vắng lặng. Chúng ta có thể làm
được việc ấy không? Câu trả lời của Lord Horder là:
"Ðược. Nhưng bằng cách nào? Tốt lắm, không phải
bằng cách làm cái gì vĩ đại. 'Tại sao các vị thánh
nhân là thánh nhân?' có người hỏi. Và câu giải đáp
đến như sau: 'Bởi vì các vị ấy tươi cười trong
những hoàn cảnh khó tươi cười, và nhẫn nhục trong
lúc khó nhẫn nhục. Các Ngài vẫn tiến bước trong
khi lòng thúc giục bảo dừng, và trong khi muốn
nói, các Ngài giữ im lặng.' Chỉ thế thôi. Thật
giản dị, nhưng cũng thật khó hành. Một vấn đề vệ
sinh tinh thần ..." Hãy kiên trì cố gắng, và cố
gắng thêm lên, không nên bỏ dỡ cuộc chiến. Không
ai thoạt nhiên mà lên đến tận đỉnh núi cao. Cũng
như người thợ bạc thiện xảo gạn lọc bợn nhơ trong
bạc, mỗi lần một chút, làm cho bạc dần dần trở nên
trong sạch, cùng thế ấy, con người phải nỗ lực tự
thanh lọc mọi nhiễm ô. [10]
Con đường mà chư Phật, tức các đấng Toàn Giác
từ ngàn xưa, đã chỉ vạch nhằm phát triển tâm tánh
là con đường hành thiền, và đó là Bát Chánh Ðạo.
Tám chi của Bát Chánh Ðạo hợp thành ba nhóm:
Giới, Định, và Tuệ (sìla, samàdhi, và pannà). Ðó
là con đường duy nhất; không có đường nào khác dẫn
đến giác ngộ và giải thoát tâm. Tất cả những gì
Ðức Bổn Sư giáo truyền và mọi hướng dẫn thực hành
để diệt trừ những xung đột tinh thần do hoàn cảnh
bất toại nguyện của đời sống tạo nên, đều nằm trọn
vẹn trong Bát Chánh Ðạo: chánh kiến, chánh tư duy,
chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh
tấn, chánh niệm, chánh định.
Hai Pháp Hành Thiền
Phần trình bày pháp hành thiền như đã được lưu
truyền đến nay trong kinh điển Phật Giáo từ những
ngày xa xưa, được căn cứ trên những phương pháp mà
chính Ðức Phật đã áp dụng để chứng ngộ Ðạo Quả và
Niết Bàn, và trên những kinh nghiệm bản thân của
Ngài trong công phu trau giồi và phát triển tâm.
Danh từ
"hành thiền" mà thường được dùng
để dịch chữ
"bhàvanà" thật sự không hẳn
theo sát nghĩa. Ðúng theo ý nghĩa uyên nguyên, "bhàvanà"
trong Phật Giáo là mở mang, trau giồi, tức là mở
mang tâm, trau giồi tâm, hay "làm-cho-tâm-trở-thành".
Ðó là nỗ lực xây dựng tâm an trụ và vắng lặng, có
khả năng nhận thức rõ ràng bản chất thật sự của
tất cả các pháp hữu vi và chứng ngộ Niết Bàn,
trạng thái lý tưởng của tâm lành mạnh.
Pháp hành thiền mà Ðức Phật đã giáo truyền có
hai:
an trụ tâm (samatha hay samàdhi), tức
hợp nhất tâm, tập trung tâm vào một điểm (cittekaggatà,
nhất điểm tâm) và
minh sát (vipassanà).
Samàdhi, định, có tác dụng làm cho tâm trở nên
vắng lặng, và vì lẽ ấy ở vài nơi danh từ samatha
hay samàdhi được dịch là vắng lặng, yên tĩnh hay
tĩnh lặng. Làm cho tâm trở nên vắng lặng hàm ý là
thống nhất hay an trụ tâm vào một điểm. Hợp nhất
tâm bằng cách an trụ tâm vững chắc vào đề mục và
không hay biết gì khác ngoài đề mục ấy.
Pháp môn hành thiền (bhàvanà) bắt đầu bằng sự
định tâm (samàdhi). Ðịnh là trạng thái tâm vững
chắc trụ vào một điểm, không chao động.
Ðịnh là gì? Dấu hiệu, điều kiện tất yếu để tiến
đến tâm định và phát triển tâm định là thế nào.
"Bất
luận gì là trạng thái tâm hợp nhất, tập trung lại
thành một, đó là định; bốn nơi để áp đặt chú niệm
vào (tứ niệm xứ) là dấu hiệu của định; bốn cố gắng
chân chánh (tứ chánh cần) [11] là điều kiện tất
yếu để định tâm; bất luận pháp tu tập nào theo các
pháp hành trên, đó là phát triển tâm định."
[12] Lời dạy trên minh bạch nói lên rằng ba chi
của nhóm định (samàdhi), tức chánh tinh tấn, chánh
niệm và chánh định cùng sinh hoạt chung và hỗ trợ
lẫn nhau. Ba chi này thật sự hợp thành định.
Phải ghi nhận rằng pháp hành thiền Vắng Lặng (samatha
bhàvanà -- cũng gọi là thiền Chỉ, hay thiền Định
-- như đã được dạy trong Phật Giáo, không phải chỉ
đặc biệt có riêng trong Phật Giáo. Từ trước thời
Ðức Phật các đạo sĩ du dà (yogi) đã có hành những
pháp môn thiền khác nhau, như hiện nay họ vẫn còn
hành. Xứ Ấn Ðộ từ bao giờ vẫn là một vùng đất
huyền bí, nhưng pháp hành mà các đạo sĩ du dà áp
dụng nhiều nhất thời bấy giờ ở Ấn Ðộ không bao giờ
vượt quá xa hơn một mức độ nào.
Thiền vắng lặng (samatha bhàvanà) được dạy
trong Phật Giáo đưa đến tột đỉnh là các tầng Thiền
(jhàna) [13].Nhưng Ðức Phật không thỏa mãn với
những tầng Thiền và các kinh nghiệm huyền bí; mục
tiêu duy nhất của Ngài chỉ là chứng đắc Toàn Giác
và Niết Bàn. Ðã hoàn toàn định tâm bằng thiền vắng
lặng, giờ đây Ngài có thể triển khai thiền minh
sát (vipassana bhàvanà). Danh từ
"vipassanà",
tuệ minh sát,
(vi + passanà), có nghĩa là
nhìn thấy một cách khác thường --
"passanà"
là thấy, và tiếp đầu ngữ
"vi" là đặc biệt.
Như vậy,
vipassanà là có cái thấy vượt ra
ngoài tầm mức thông thường, thấy một cách rõ ràng.
Ðây không phải là thấy phớt qua trên bề mặt, không
phải chỉ thấy thoáng qua cái dáng bề ngoài, mà
thấy sự vật đúng trong bối cảnh của nó, tức thấy
dưới ánh sáng của ba đặc tướng, hay ba dấu hiệu
đặc thù của tất cả các pháp hữu vi, tất cả những
hiện tượng sinh tồn:
vô thường, khổ và vô ngã (anicca,
dukkha và anattà). Chính thiền minh sát này,
dựa trên nền tảng của tâm định vắng lặng, giúp cho
hành giả khả năng gội rửa tất cả mọi ô nhiễm trong
tâm đến mức tận cùng, lột bỏ mọi ảo kiến về cái "ta",
nhìn thấy thực tướng của vạn pháp và chứng ngộ
Niết Bàn.
Như vậy, thiền minh sát, vipassanà, là một giáo
lý trọng yếu, đặc thù của chính Ðức Phật, trước
kia chưa từng được nghe đến. Ðó là chứng nghiệm
duy nhất của Ðức Bổn Sư, hoàn toàn riêng biệt Phật
Giáo, chưa ai từng biết trước thời Ðức Phật.
Ta phải nhấn mạnh rằng cả hai, thiền vắng lặng
và thiền minh sát (samàdhi và vipassanà), đều
thiết yếu để chứng ngộ Giáo Pháp, đắc Niết Bàn.
Ðức Phật dạy:
"Khi vắng lặng được phát triển,
tâm được phát triển, và tham ái được dứt bỏ; khi
minh sát được phát triển, chánh kiến được phát
triển và vô minh được dứt bỏ. Cái tâm mà bị tham
ái làm ô nhiễm không được giải thoát; khi có ô
nhiễm do vô minh, chánh kiến không phát triển ..."
[14]
Samàdhi, (samatha), định, là một trong tám chi
của Bát Chánh Ðạo, không thể bị loại trừ trong bất
cứ trường hợp nào. Samàdhi là cittavisudhi, tâm
tịnh, tức tâm trong sạch phát sanh khi hành giã đã
loại trừ những chướng ngại tinh thần (nìvarana,
năm pháp triền cái).
Theo lời dạy của Ðức Bổn Sư, rõ ràng là trong
cuộc hành trình đến giác ngộ và Niết Bàn không thể
có ngã nào tắt, khỏi phải đi ngang qua samàdhi,
định.
Những Loại Tâm Tánh
Tâm là một hiện tượng tế nhị và phức tạp đến độ
không thể có hai người có tâm giống y hệt nhau. Tư
tưởng của con người được diễn đạt ra thành lời nói
và hành động. Lời nói và hành động mà lặp đi lặp
lại nhiều lần trở thành thói quen và cuối cùng,
thói quen lâu ngày trở thành tâm tánh. Tâm tánh là
hậu quả của những "sinh-hoạt-do-tâm-hướng-dẫn" của
con người và như thế tâm tánh của mỗi chúng sanh
mỗi khác. Sách Thanh Tịnh Ðạo (Visuddhi-magga), đề
cập đến sáu loại tâm tánh (carita) chánh yếu, bao
gồm nhiều loại khác kém quan trọng hơn. Ðó là
những tâm tánh có chiều hướng tham, sân, say mê,
đức tin, trí thức và phóng dật. Vì nhiều tâm tánh
khác nhau nên cũng có nhiều đề mục hành thiền (kammatthàna)
khác nhau. Những đề mục hành thiền này được lược
thuật trong kinh điển Pali, nhất là trong các bài
giảng của Ðức Phật. Thanh Tịnh Ðạo mô tả bốn mươi
đề mục như vậy. Quả thật đó là các toa thuốc để
chữa trị những xáo trộn tinh thần khác nhau mà con
người thừa kế từ những kiếp sống quá khứ.
Trong bộ Majjhima Nikàya, Trung A Hàm, một
trong năm bộ kinh Pali ghi lại những thời Pháp do
Ðức Phật giảng, có hai bài (số 61 và 62) bao gồm
toàn vẹn những lời dạy của Ðức Bổn Sư về thiền
tập.
Trong bài kinh số 62 Ðức Phật dạy bảy đề mục
hành thiền cho vị sa di trẻ tuổi Ràhula mà, theo
bản chú giải, lúc ấy chỉ mười tám tuổi. Sau đây là
một đoạn trích từ bài kinh ấy:
"Hãy phát triển pháp niệm tâm từ (mettà),
này Ràhula, bởi vì pháp hành này sẽ diệt trừ ác
ý (vyàpàda).
Hãy phát triển pháp niệm tâm bi (karunà),
này Ràhula, vì pháp hành này sẽ diệt trừ lòng
hung bạo (vihesà).
Hãy phát triển pháp niệm tâm hỷ (mudità),
này Ràhula, vì pháp hành này sẽ diệt trừ lòng
không ưa thích (arati, đây là không ưa thích
hành thiền) .
Hãy phát triển pháp niệm tâm xả (upekkhà),
này Ràhula, vì pháp hành này sẽ diệt trừ lòng
thù hận (patigha).
Hãy phát triển pháp quán niệm các uế trược
(asubha), này Ràhula, vì pháp hành này sẽ diệt
trừ lòng tham dục (ràga).
Hãy phát triển pháp tri giác vô thường
(anicca sannà, nhận thức đặc tướng vô thường của
vạn pháp), này Ràhula, vì pháp hành này sẽ diệt
trừ lòng ngã mạn tự ái (asmimàna).
Hãy phát triển pháp quán niệm hơi
thở-ra-thở-vào (ànàpànassati), này Ràhula, vì
pháp hành này nếu được phát triển và thường
xuyên trau giồi sẽ đem lại nhiều thành quả tốt
đẹp, nhiều lợi ích trọng đại." [15]
Ðức Phật chẳng những chỉ dẫn và khuyên nhủ
người khác hành thiền, mà chính Ngài cũng thực
hành thiền định như một lối an trú tâm,
tịnh
dưỡng tinh thần nơi đây và trong hiện tại
(ditthadhamma sukhavihàri). Một lần nọ Ðức Thế
Tôn dạy: "Này chư tỳ khưu, Như Lai muốn sống vắng
vẻ một mình trong ba tháng. Chớ nên để ai khác đến
viếng Như Lai ngoài người đem dâng vật thực." "Dạ
xin vâng, Bạch Ðức Thế Tôn." Sau khi ba tháng trôi
qua Ðức Thế Tôn dạy:
"Này chư tỳ khưu, nếu những người khác (những
người thuộc tín ngưỡng khác) hỏi các con: 'Trong
thời gian Nhập Hạ, Samana Gotama (Sa Môn Cồ Ðàm)
thường thực hành pháp môn nào?' các con nên trả
lời: 'Trong thời gian Nhập Hạ Ðức Thế Tôn thường
quán niệm hơi-thở-vào-thở-ra.' Nơi đây, này chư
tỳ khưu, với chánh niệm Như Lai thở vào, với
chánh niệm Như Lai thở ra ... Này chư tỳ khưu,
người nói đúng phải nói: chú niệm vào
hơi-thở-vào-thở-ra là lối sống cao thượng của
bậc thánh nhân (ariya), của bậc phạm hạnh
(brahma), lối sống của Như Lai (Tathàgata). [16]
Ta không cần phải cố gắng thực hành đầy đủ tất
cả bốn mươi đề mục hành thiền. Ðiều quan trọng là
nên chọn đề mục nào thích hợp nhất với mình. Nên
tìm sự hướng dẫn của một người có nhiều kinh
nghiệm hành thiền. Sách về thiền cũng có thể hữu
dụng. Dầu sao, điểm trọng yếu là nên nhận định tâm
tánh mình một cách thành thật, vì không vậy ắt
không thể chọn đúng đề mục thích hợp với mình. Một
khi đã chọn ta nên đặt vững niềm tin vào đó và gia
công tinh tấn thực hành. Hành thiền là một pháp
hành "tự mình làm lấy".
Nếu ta còn mãi bận rộn tâm trí với những việc
thế gian, trong việc làm hằng ngày, thì có thể
không dễ gì tự cắt lìa, tách rời ra khỏi thế sự và
ngồi lại yên tĩnh, đúng giờ giấc, mỗi ngày, để
hành thiền một cách nghiêm chỉnh. Nhưng nếu thật
sự muốn, với ý chí dũng mãnh, cũng có thể làm
được. Chắc chắn là mỗi ngày chúng ta có thể dành
riêng một ít, chút ít thì giờ ngắn ngủi nào cũng
tốt, hoặc lúc bình minh, hoặc ngay trước khi ngủ,
bất luận lúc nào mà tâm sẵn sàng lắng động, để
ngồi lại tập trung tư tưởng và gom tâm an trụ.
Nếu ngày này qua ngày khác ta có thể cố gắng
trau giồi tâm an trụ như vậy ắt sẽ có thể thực
hành công trình này một cách tốt đẹp hơn, hữu hiệu
hơn, ý chí sẽ dũng mãnh hơn, để mạnh dạn đối phó
với những lo âu và những căng thẳng phiền toái của
cuộc sống, và do đó có thể đạt đến trạng thái
thoải mái dễ chịu hơn. Ðây là công trình đáng cho
ta thực hiện. Chỉ cần phải kiên trì nhẫn nhục, bền
công thực hành, vững chí cố gắng, và nếu thật sự
thực lòng, ta sẽ có nhiều hy vọng thành công. Nếu
có thể, công phu hành thiền phải được thực hiện
đều đặn hằng ngày, vào giờ nhất định, trong một
thời gian đáng kể, và không nên nóng lòng trông
đợi kết quả, Chuyển biến tâm lý không diễn tiến
nhanh chóng.
Tam Học
Trước khi gia công thực hành nhiệm vụ khó khăn
hơn, là uốn nắn trau giồi tâm bằng thiền tập, điều
chánh yếu là chúng ta nên tự khép mình vào khuôn
khổ kỷ cương, đặt hành động và lời nói trong giới
luật. Giới luật (sìla) trong Phật Giáo nhằm điều
ngự thân và khẩu nghiệp, hay nói cách khác, giới
luật nhằm thanh lọc thân và khẩu, làm cho lời nói
và hành động trong sạch. Ðây là pháp tu học để
trau giồi đức hạnh (sìla-sikkhà, pháp tu học về
giới). Ba chi của Bát Chánh Ðạo hợp thành nhóm
giới (sìla) trong Phật Giáo là: chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng. Người quyết tâm hành thiền
nghiêm trì tối thiểu năm giới căn bản được gọi là
panca sìla (ngũ giới) -- kiêng cữ sát sanh,
trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ và dể duôi dùng chất
say như rượu mạnh, ma túy v.v... vốn đầu độc tâm
trí và gây nên tình trạng tâm thần buông lung
phóng túng, không giác tỉnh. Trong một khóa thiền,
thiền sinh phải sống hoàn toàn trong sạch như
người độc thân và như vậy giới thứ ba, không tà
dâm, trở thành không thông dâm.
Giới (sìla) là nền tảng vững chắc trong lối
sống của người Phật tử. Ðó là căn bản của công
trình trau giồi tâm trí. Người quyết tâm thực hành
thiền tập, hay gom tâm an trụ, phải phát triển tâm
ưa thích giới đức, vốn là yếu tố bồi dưỡng đời
sống tâm linh, giúp cho tâm dễ dàng an trụ và tĩnh
lặng. Người có chú nguyện thành đạt trạng thái tâm
trong sạch cao thượng nhất hằng thực hành pháp
thiêu đốt dục vọng, chất liệu làm cho tâm ô nhiễm.
Người ấy suy tư: "Kẻ khác có thể gây tổn thương,
nhưng ta không làm tổn thương ai; kẻ khác có thể
sát sanh, nhưng ta không sát hại sinh vật; kẻ khác
có thể lấy một vật mà không được cho đến mình,
nhưng ta không thể sai lầm lấy của nào không được
cho đến ta; kẻ khác có thể sống phóng túng lang
chạ, nhưng ta giữ mình trong sạch; kẻ khác có thể
nói giả dối, đâm thọc, thô lỗ hay nhảm nhí, nhưng
ta sẽ nói những lời chân thật, đem lại hòa hợp,
thuận thảo, những lời vô hại, những lời thanh nhã
dịu hiền, đầy tình thương, những lời làm đẹp dạ,
đáng được ghi vào lòng, đúng lúc, đúng nơi, những
lời hữu ích; kẻ khác có thể tham lam, nhưng ta sẽ
không tham; kẻ khác có thể để tâm cong queo xiêu
vẹo, nhưng ta sẽ giữ tâm ngay thẳng. Ta sẽ tinh
tấn, cao thượng, chân thật, chánh trực, an lạc
thanh bình, thanh khiết, tri túc, quảng đại và
luôn luôn thành thật. Ta sẽ chuyên cần nhiếp tâm
chú niệm và khai triển tuệ minh sát để luôn luôn
trọn vẹn hay biết chân lý và sẽ không xao xuyến vì
sự vật tan biến hoặc cố bám vào sự vật." [17] Như
vậy người ấy không hành động đê hèn như những
người không suy tư.
Giới luật (sìla) mà Ðức Phật ban hành không
phải là những điều răn cấm tiêu cực mà rõ ràng xác
định ý chí cương quyết hành thiện, sự quyết tâm có
những hành động tốt đẹp -- một con đường toàn hảo
xây đắp bằng thiện ý, nhằm tạo an lành và hạnh
phúc cho nhân loại. Những quy tắc đạo lý này nhằm
tạo dựng một xã hội châu toàn bằng cách đem lại
tình trạng hòa hợp, nhất trí, điều hòa, thuận thảo
và sự hiểu biết lẫn nhau giữa người và người.
Giới đức trang nghiêm giúp phát triển tâm định
(samàdhi). Ba chi cuối cùng của Bát Chánh Ðạo là:
chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định, hợp
thành nhóm định, và được gọi là "đhều học về định"
(samàdhi-sikkhà). Trong khi tiến bộ hành trì giới
luật ngày càng tinh nghiêm, hành giả thực hành
trau giồi tâm trí. Ngồi lại trong một tịnh thất,
dưới một cội cây hay ngoài trời, hoặc một nơi
thích hợp nào khác, hành giả gom tâm chăm chú vào
đề mục hành thiền, rồi không ngừng tinh tấn gội
rửa mọi bợn nhơ trong tâm và dần dần tiêu trừ năm
chướng ngại tinh thần (năm pháp triền cái), định
tâm vào một điểm.
Tâm định ở mức độ cao là phương tiện để thành
đạt trí tuệ hay tuệ minh sát. Tuệ bao gồm chánh
kiến và chánh tư duy, hai chi đầu tiên của Bát
Chánh Ðạo, được gọi là
"điều học về tuệ"
(pannà-sikkhà). Như vậy, giới, định, tuệ, mà
trong kinh sách thường gọi là tam học
(tividhà-sikkhà) là ba điều học, hay ba pháp tu
học. Tuy nhiên, không có điều học nào trong tam
học tự nó là mục tiêu cứu cánh. Mỗi điều học là
phương tiện để tiến tới mục tiêu. Chúng ta không
thể thực hành riêng rẽ một điều học và bỏ quên hai
điều kia. Cũng như chân máy chụp hình, đứng vững
được là nhờ có đủ ba chân. Nếu một chân sụp gảy
thì tất cả đều rơi. Cùng thế ấy, chúng ta không
thể thực hành một điều học mà không nhờ sự hỗ trợ
của hai điều kia. Các điều học ấy nâng đỡ lẫn
nhau. Giới đức hay tác phong đạo đức thanh cao
củng cố tâm định. Tâm định, được giới đức hỗ trợ,
tạo nhiều thành quả, nhiều lợi ích và làm nền tảng
để phát huy trí tuệ. Trí tuệ giúp hành giả phá tan
lớp mây mờ si mê bao phủ sự vật và trực chứng thực
tướng của vạn pháp, thấy đời sống đúng như thật sự
đời sống là vậy, tức thấy đời sống và những gì
liên quan đến đời sống luôn luôn ở trong trạng
thái sanh rồi diệt (udaya-vaya, sanh-hoại). Bằng
một tiến trình biến chuyển dần dần [18], bằng công
trình tu tập dần dần, thực hành dần dần, hành giả
thanh lọc mọi bợn nhơ, tận diệt mọi ô nhiễm, thành
đạt giải thoát. Ðiều này có nghĩa là hành giả tự
chứng nghiệm trạng thái chấm dứt ba căn bất thiện,
tiêu trừ trọn vẹn nguồn gốc của mọi hình thức đau
khổ là: tham, sân, si (lobha, dosa, moha) mà từ
lâu đã xâm chiếm tâm trí con người. Hành giả loại
bỏ và diệt trừ tận gốc rễ ba căn bất thiện bằng
cách thực hành ba điều học: giới, định, tuệ (sìla,
samàdhi, pannà).
Với sự thanh lọc toàn vẹn cuối cùng ấy hành giả
tiến đạt đến mức độ được Ánh Sáng Niết Bàn soi tỏ,
tình trạng vắng lặng vượt ra ngoài phạm vi của
ngôn ngữ, vững vàng bất thối chuyển vượt ra ngoài
mọi tư tưởng, tự do vượt ra ngoài mọi hành động,
nền tảng chắc chắn và châu toàn, vinh quang rực rỡ
không thể phai lạt, hạnh phúc của tâm tự tại, nhẹ
nhàng thoát ra khỏi mọi ràng buộc và thành đạt
trạng thái an lạc toàn hảo, sâu xa huyền diệu và
thanh khiết mà không có bất cứ ai, bất luận gì, có
thể làm thối chuyển, chân lý cao thượng nhất. Ðó
là mức tuyệt đỉnh của cuộc sống hành thiền, là
thành quả quý báu nhất của thiền tập. Do nhờ thành
quả này mọi hiện tượng sanh, già, chết đều chấm
dứt, không còn trở đi trở lại nữa, đời sống thánh
thiện đã được trải qua đầy đủ, và tất cả những gì
cần phải làm đã được thực hiện trọn vẹn, không còn
gì trên thế gian làm bận tâm hành giả.
Như vậy ta thấy rằng giới, định, tuệ không phải
là ba đức độ riêng rẽ, không liên quan với nhau,
mà là những thành phần dính liền nhau của Bát
Chánh Ðạo, cũng là con đường hành thiền, như đã
được sơ lược trình bày ở phần trên.
Niệm Xứ
Giờ đây chúng ta hãy tiến dần đến phương pháp
đặc thù của thiền tập, thảo luận về một sắc thái
rất quan trọng của pháp hành thiền trong Phật
Giáo. Ðó là pháp niệm xứ, satipatthàna, sự "thiết
lập, áp đặt chú niệm vào."
"Patthàna" là
một hình thức rút ngắn của chữ
"upatthàna",
có nghĩa là "để gần lại" (tâm của mình), hàm ý giữ
tâm hay biết, đặt tâm trên, thiết lập, củng cố, áp
đặt hay khơi dậy. Thức tỉnh, làm phát khởi sự hay
biết sắc bén đối tượng đến một người. Tác dụng của
pháp này là khơi động, làm cho người ấy hay biết
rõ ràng đối tượng và đem lại, làm khơi dậy ngũ căn
(tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn và tuệ căn),
ngũ lực (tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực và
tuệ lực), thất giác chi (niệm, trạch pháp, tấn,
phỉ, an, định, xả), và chi chánh niệm của con
đường -- đó là thiết lập chú niệm.
Bài kinh đề cập đến pháp Niệm xứ (Satipatthàna
Sutta, ta thường gọi là kinh Tứ niệm xứ) là một
trong những bài kinh trọng yếu nhất mà Ðức Phật đã
thuyết giảng. Bài kinh này được ghi chép hai lần
trong Tam Tạng Kinh Ðiển [19]. Lời mở đầu bài kinh
tuyên ngôn rõ ràng: Pháp niệm xứ là con đường duy
nhất (ekàyano maggo) để chúng sanh tự thanh lọc,
nhằm vượt qua khỏi phiền não và ta thán, để diệt
trừ đau khổ và ưu phiền, để đạt đến chánh đạo và
chứng ngộ Niết Bàn.
Niệm xứ có bốn, là củng cố chú niệm nơi: 1)
thân (kàyànupassanà, niệm thân); 2) thọ hay cảm
giác (vedanà- nupassanà, niệm thọ); 3) những sinh
hoạt của tâm (città-nupassanà, niệm tâm); và 4)
đối tượng của tâm (dhammà-nupassanà, niệm pháp).
Ðiểm quan trọng ở đây là niệm (sati), sự chú tâm
hay quan sát (anupassanà).
Như đã được đề cập trên đây, hành giả thành đạt
trạng thái tâm an trụ và vắng lặng nhờ thực hành
phối hợp ba chi của Bát Chánh Ðạo là: chánh tinh
tấn, chánh niệm và chánh định. Ba chi này cũng như
ba tao nhợ hợp thành sợi thừng, chằng chịt lẫn
nhau và liên quan với nhau rất mật thiết. Tuy
nhiên, niệm được xem là tao nhợ mạnh hơn hết, bởi
vì niệm có một vai trò vô cùng quan trọng trong
công phu tu tập nhằm đạt đến cả hai, vắng lặng và
minh sát. Niệm là một cơ năng của tâm và do đó, là
một tâm sở. Nếu không có tâm sở tối trọng yếu này
ta không thể nhận ra một vật -- đối tượng của giác
quan -- và chúng ta không thể hay biết đầy đủ tác
phong của chính chúng ta. Ðược gọi là chánh niệm
vì một đàng nó giúp tránh xa tình trạng chú tâm
sai lạc theo chiều hướng sai lầm, và ngăn cản
không để tâm chăm chú vào bất thiện pháp và đàng
khác, hướng dẫn tâm theo chiều hướng chân chánh,
đến trạng thái trong sạch và giải thoát.
Chánh niệm tăng trưởng năng lực quan sát của
chánh kiến và chánh tư duy và hỗ trợ, làm cho hai
chi này trở nên sâu sắc bén nhạy. Con người hiểu
biết và suy tư có trật tự nhờ chánh niệm. Bài kinh
chỉ dạy rành mạch làm cách nào hành giả có thể hay
biết luồng tư tưởng của mình, giác tỉnh theo dõi,
ghi nhận và quan sát mỗi ý nghĩ và từng ý nghĩ của
mình, tư tưởng tốt cũng như xấu, thiện hay thế nào
khác. Vị hành giả chuyên cần tu tập sẽ ghi nhận
rằng chính nhờ thỉnh thoảng đọc lại bài kinh Niệm
Xứ làm cho ta giác tỉnh hơn, quyết tâm hơn và thận
trọng chú niệm nhiều hơn. Chánh niệm là phẩm hạnh
mà không có bất luận người suy tư và hiểu biết nào
xem thường. Trong thời đại hổn tạp mà chúng ta
đang sống, trong lúc mà rất nhiều người đang mất
thăng bằng tâm trí, công trình trau giồi chú niệm
quả thật vô cùng thiết yếu.
Chánh niệm không những đem lại tình trạng an
trụ và tĩnh lặng mà còn giúp ta hiểu biết chân
chánh và có lối sống chân chánh. Chánh niệm là yếu
tố quan trọng trong tất cả những hành động của
chúng ta, trần tục trong đời sống thường ngày hay
những hoạt động tinh thần có tánh cách đạo đức.
Giờ đây chúng ta thấy rằng hành thiền không phải
đào tẩu nhiệm vụ, hay bỏ chạy, tách rời xa đời
sống và trốn tránh xã hội, cũng không phải tự lưu
đày ra ngoài đời sống, mà chính là một hình thức
của cuộc sống lý tưởng.
Thực Hành Thiền Tập
Chỉ khi nào ngồi xuống hành thiền chúng ta mới
có thể nghiêm chỉnh tự phân tách mình mà không bị
thành kiến ảnh hưởng. Chừng ấy khái niệm về tự ngã
hay một bản ngã sẽ tan biến. Ta chỉ thấy một luồng
trôi chảy của danh và sắc, tuyệt nhiên không có
một thực thể thường còn, hay bất luận gì đơn thuần
hoặc một bản ngã vững bền không hoại diệt. Nhìn
trên phương diện này, đời sống không có phương
Ðông hay phương Tây, không có nam hay nữ, mà chỉ
là một tiến trình vượt qua khỏi mọi giới hạn giai
cấp, chủng tộc, màu sắc, tín ngưỡng và không gian.
Vậy, hãy cố gắng ngay thẳng, thành thật và
thẳng thắn tự nhìn mình, nhìn những cảm giác (thọ)
của mình và những tư tưởng (tâm) của mình một cách
sáng suốt. Hãy cố gắng thấy mình như thật sự mình
là vậy, chớ không phải như mình có vẻ là vậy. Ðiều
này chỉ có thể thực hiện khi mà chúng ta thật sự
thành thật và tin tưởng nơi ta. Theo pháp hành
thiền trong Phật Giáo, mở rộng tâm trí và tìm tòi
quan sát một cách thẳng thắn là điều kiện tất yếu
không thể không có. Thiếu yếu tố này một hành giả
sơ cơ sẽ không thể đặt nền tảng vững chắc cho
những cơ cấu xây cất bên trên. Và bởi vì thấu hiểu
chân lý là vấn đề hoàn toàn cá nhân của mỗi người,
mỗi cá nhân phải tự mình tìm hiểu chính mình chớ
không có sự chỉ dẫn hay giáo huấn nào có thể giúp
hành giả, nếu chính hành giả không tự rèn luyện,
không tu tập tự quán chiếu. Thiền tập quả thật là
thiết yếu bởi vì nhờ hành thiền mà ta có thể mở
khóa cửa, bước vào những bí ẩn của nội tâm.
Bài kinh Niệm xứ diễn tả kỹ thuật trau giồi tâm
linh nhằm vượt ra ngoài phạm vi trí thức đến mức
tự mình thật sự chứng nghiệm đời sống, tự mình
khám phá những chứng bịnh phổ cập sâu kín của tâm
con người và gia công giải phóng tâm ra khỏi mọi
ràng buộc -- trạng thái châu toàn tối thượng.
Giờ đây chúng ta hãy thảo luận về pháp
niệm
thân (kàyànupassanà), và đặc biệt phần
ànàpànassati, niệm hơi-thở-vào-thở-ra. Ðây là
phương pháp hành thiền rất phổ thông, được nhiều
người ưa thích và thực hành khắp nơi trên thế
giới, vì pháp này có thể thích hợp với nhiều người
để gom tâm an trụ và lắng tâm tĩnh lặng. Bồ Tát
Siddhattha Gotama xưa kia cũng áp dụng pháp này
khi Ngài tận lực cố gắng chứng ngộ Ðạo Quả Vô
Thượng dưới cội bồ đề. Ðức Phật cũng quả quyết
khẳng định tầm quan trọng của pháp hành này. Pháp
này được mô tả là làm cho
hành giả an lạc, cao
thượng, tinh khiết và sống hạnh phúc (santo ceva
panìto ca asecanako ca sukho ca vihàro) [20].
Phải ghi nhận rằng ànàpànassati không phải là một
"phương pháp tập thở" để cho cơ thể được khỏe
mạnh, cũng không giống như pháp prànayàma, được
dạy trong hệ thống du dà của Ấn Ðộ Giáo.
Về nơi chốn để hành thiền, ta được khuyên là
nên chọn một nơi vắng vẻ, trong rừng, dưới một cội
cây hay ngoài trời, hay ở một nơi thích hợp nào
khác. Nếu có thể được, hãy tìm một nơi yên tĩnh,
xa những cảnh huyên náo ồn ào, rầm rộ xôn xao của
đời sống nhộn nhịp bận rộn. Trong phòng ngủ hoặc
"phòng thờ" nếu ta may mắn được có, có thể là nơi
mà ta có thể sống đơn độc, riêng biệt một mình.
Theo pháp hành đề mục này ta cần phải ở thế
ngồi. Ngồi thẳng lưng, tréo hai chân nhưng không
gồng cứng mình, giữ tâm chú niệm và giác tỉnh. Vì
hai chân tréo khóa cứng lại hay vì sàn nhà cứng,
đôi khi ta cảm nghe không được thoải mái và như
vậy, tâm bị chi phối, không an trụ được. Chừng ấy
ta có thể ngồi trên một cái ghế có dựa đứng thẳng.
Dầu ngồi thế nào, đặc biệt trong pháp hành này,
không phải như các pháp hành khác, ta phải giữ
thân mình (xương sống) và đầu ngay thẳng, không
nghiêng ngã bên nào. Nên ngồi cách nào cho được
thoải mái, nhưng không nên dựa lưng hay nằm xuống,
để tránh khỏi buồn ngủ. Hai tay có thể gát trên vế
hoặc tay mặt đặt trên tay trái, cả hai đều lật
ngửa lên. Mắt có thể nhắm hí hí phân nửa, hoặc
nhắm kín luôn một cách tự nhiên, không có cố gắng.
Hai môi ngậm lại và giữ lưỡi sát hàm trên. Tất cả
những chi tiết này cho thấy rằng người hành thiền
cũng cố gắng điều phục thân, và thân được điều
phục sẽ giúp tâm dễ chú niệm và an trụ. Giữ thân
càng bất động càng tốt. Tâm phải giác tỉnh và quán
chiếu sâu sắc. Thân và tâm cần phải căng thẳng vừa
phải, như dây của cây cung, và điều hòa đúng nhịp
như dây của cây đờn. Pháp hành thiền quả thật là
một công trình thực nghiệm. Cũng như rùa giữ kín
bốn chân dưới cái mu, cùng thế ấy, người hành
thiền che chỡ giữ gìn ngũ quan của mình và chế ngự
dục vọng bằng chú niệm và dành tất cả năng lực để
trau giồi tâm trí. Hãy cố gắng hành thiền đều đặn,
nếu có thể được, mỗi ngày vào giờ nhất định, bởi
vì chính những yếu tố tâm lý ấy sẽ giúp ta thành
công trong công phu hành thiền.
Hơi thở vào và hơi thở ra diễn tiến một cách tự
nhiên, hầu như máy móc, chúng ta biết vậy. Trong
những lúc bình thường không mấy ai để ý đến hơi
thở. Nhưng khi hành thiền theo pháp niệm hơi thở,
thì điều chánh yếu là phải chú niệm, hay biết hơi
thở. Luồng hơi mà chúng ta thở vào hay thở ra phải
được ghi nhận và quan sát. Sự chú niệm này làm cho
thân trở nên yên tĩnh và được chuẩn bị sẵn sàng để
công phu hành thiền tiến sâu thêm, nhằm tăng
trưởng năng lực của tâm định và trạng thái vắng
lặng. Chúng ta hoan hỷ ghi nhận rằng các nhà tâm
lý học hiện đại đã xác nhận giá trị và tầm quan
trọng của công trình niệm hơi thở nhằm lắng dịu
tình trạng căng thẳng của cơ thể và tâm trí. Như
vậy, công phu hành thiền này đúng thật là việc làm
có tánh cách thực dụng, là một phương thức trị
liệu trong ý nghĩa cao cả nhất của danh từ. Pháp
này không phải để phát huy kiến thức suông, mà để
tự giải phóng, vượt ra khỏi mọi bợn nhơ tinh thần
và đạt đến trạng thái tâm linh trong sạch, tĩnh
lặng và tự tại. Trong pháp hành niệm hơi thở, điều
trọng yếu nhất là luôn luôn chú tâm theo dõi hơi
thở. Phải nhiếp tâm chú niệm (sati) và chăm chú
quán chiếu (anupassanà) trong tất cả bốn loại niệm
xứ. Khi ngồi lại hành thiền, hãy an nghĩ hẳn. Hãy
tự tách rời ra khỏi thế giới căng thẳng. Trong khi
thở vào ba hơi thở đầu, hãy tưởng tượng rằng từ
bên ngoài ta đem vào tất cả những gì tốt đẹp, cao
cả và trong sạch của vũ trụ. Khi thở ra ba hơi
đầu, hãy tưởng tượng là ta đang vứt ra tất cả
những tư tưởng "đầu độc", ô nhiễm, tất cả những gì
xấu xa, thấp hèn và nhơ bẩn bên trong chúng ta. Ðó
là phương cách chuẩn bị thân tâm để tiến vào thiền
tập.
Nghệ Sĩ Trên Sân Khấu
Bây giờ chúng ta hãy bắt đầu thực hành pháp
niệm hơi-thở-vào-thở-ra (ànàpànassati). Hãy để cho
hơi thở hô hấp tự nhiên, không có sự cố gắng nào.
Cứ an tĩnh thở. Không nên cố gắng kiểm soát hơi
thở. Chỉ để luồng hơi thong thả tuôn ra, rồi thong
thả trôi vào, dưới ánh sáng của tâm hoàn toàn giác
tỉnh.
Hành giả thở vào và thở ra với tâm luôn luôn
theo dõi ghi nhận và hay biết, nhiếp tâm chú niệm
vào hơi thở chớ không phải vào chính mình. Mục
đích duy nhất của hành giả là tập trung sự chăm
chú vào hơi thở rồi cột tâm vào đó, ngoài ra không
hay biết tư tưởng nào khác. Nếu hành giả còn lưu
tâm đến những gì xuất hiện mập mờ "bên rìa", ngoài
"phạm vi chăm chú" của mình ắt khó mà gom tâm, và
chừng đó tâm sẽ phóng đi. Ðối với quý vị còn sơ
cơ, nên ghi nhận "vào", "ra", mỗi khi thở vào hay
thở ra, tập cho quen chú tâm theo dõi và ghi nhận.
Nếu còn thấy khó kềm được sự chú tâm hay biết, khi
thở vào đếm
"một" (đếm và ghi nhận thầm);
khi thở ra đếm thầm
"hai" khi hơi thở chấm
dứt. Ðếm như vậy không quá mười, và không ít hơn
năm, bởi vì tâm sẽ có chiều hướng duyên theo con
số đếm mà lìa bỏ hơi thở. Khi tâm đã tập trung
được dễ dàng hành giả sẽ không đếm nữa mà chỉ theo
dõi hơi thở.
Khi niệm hơi-thở-vào-hơi-thở-ra, phải đặt sự
chú tâm vào điểm mà hành giả nghe luồng hơi thở
chạm thân, đầu lổ mũi hay ở chót môi trên. Hãy ghi
nhận luồng hơi trôi vào thế nào, và tuôn ra như
thế nào ngang qua điểm ấy, mà không theo dõi luôn
đến lồng phổi, hay ra ngoài không khí. Không nên
kềm giữ hay ngưng hơi thở. Phải để cho hệ thống hô
hấp diễn tiến thật tự nhiên, không có cố gắng nào
để kiểm soát. Hãy tập trung sự chú tâm vào điểm
"ra-vào" ở mũi và hoàn toàn hay biết, ghi nhận mỗi
hơi thở vào, thở ra.
Ðôi khi hơi thở có thể trở nên nhẹ nhàng, tế
nhị đến độ hành giả cảm thấy khó có thể "bắt"
được, hoặc còn cảm thọ được. Nhưng điều này không
có nghĩa là tâm hành giả trở thành trống không.
Ðiều ấy không thể xảy ra, bởi vì ta không thể nghĩ
rằng có cái tâm rỗng không, một cái tâm trong đó
không có tư tưởng nào.
Khi không còn cảm nghe hơi thở nữa thì ta hay
biết như vậy. Ðã có sự hay biết, tức tâm không
phải rỗng không. Sau đó hành giả sẽ cảm giác, hay
biết hơi thở trở lại. Mỗi khi tâm phóng đi, duyên
vào những tư tưởng khác, hãy hay biết sự phóng tâm
ấy nhưng không để mình bị cảm xúc, cũng không suy
tư về những tư tưởng này. Không nên phê bình, chỉ
trích, đánh giá, hay ngợi khen những tư tưởng ấy
mà chỉ đem sự chú tâm của mình trở về nhịp thở tự
nhiên. Hành giả cũng có thể bị những tư tưởng bợn
nhơ hay bất thiện tràn ngập. Ðiều này có thể xảy
ra. Chính trong khi hành thiền ta hiểu biết tâm
mình hoạt động như thế nào. Hãy giác tỉnh và hay
biết cả hai, những tư tưởng cao thượng và những ý
nghĩ thấp hèn, những gì tốt đẹp và những gì xấu
xa, thiện và bất thiện. Không nên ngã mạn tự tôn
với những tư tưởng tốt và thất vọng ngã lòng với
những ý nghĩ xấu. Tư tưởng đến rồi đi, không khác
nào các nghệ sĩ trên sân khấu. Khi nghe tiếng động
hãy ghi nhận, có "tiếng động", rồi đem tâm trở về
hơi thở. Cùng thế ấy, khi có mùi, có vị, có xúc
chạm, đau, sướng v.v... hãy theo dõi quan sát
những tư tưởng ấy (nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức,
thân thức) một cách khách quan, tự tại và không
dính mắc. Giác tỉnh chú niệm có nghĩa là quan sát
bất cứ gì xảy đến bên trong ta và trong tác phong
của chúng ta, chớ không xét đoán xem nó tốt hay
xấu. Chỉ nhìn, quan sát với sự hay biết suông.
Nhìn một cách khách quan mà không vấn vương dính
mắc với những tư tưởng ấy. Ðó rõ ràng là tận dụng
sự tập trung chú niệm vào bất cứ điều gì mình đang
làm hay đang chứng nghiệm.
Hành giả có thể cũng nhận thấy trong tâm những
hình ảnh do trí nhớ hay trí tưởng tượng tạo nên
như ánh sáng, màu sắc v.v... Không nên nghĩ rằng
đó là một tiến bộ tinh thần mà sẽ bị chán nản về
sau. Ngược lại, đó là những chướng ngại sẽ làm
chậm trể bước tiến trong công phu hành thiền của
chúng ta. Hãy giác tỉnh, hay biết những hình ảnh
ấy mà không vọng móng theo, không dính mắc vào đó,
chỉ đem sự chú tâm trở về hơi thở. Ta cần phải
nhẫn nhục và cố gắng nhiều để đoạn lìa những sản
phẩm phụ ấy, tập trung nỗ lực vào nhiệm vụ gom tâm
an trụ. Mức độ tận lực cố gắng và kiên trì nhẫn
nhục nhằm đem lại thanh tịnh và toàn hảo bằng pháp
hành thiền vắng lặng (samatha) và thiền minh sát
(vipassanà) mạnh mẽ và phi thường như thế nào? Chỉ
có người thật sự hành thiền mới có thể thấu hiểu.
Ðối với một hành giả còn là phàm nhân (tức chưa
đắc thánh Quả) thì việc có những tư tưởng bất
thiện hay sai lầm phát sanh là tự nhiên.
"Tham
ái thấm nhuần tâm không thuần thục như nước thấm
dột vào căn nhà không khéo lợp." [21]
Khát vọng của con người gây nhiều xáo trộn cho
con người. Khi bị trở ngại vì một lý do gì tham ái
này trở thành tức giận, tâm sân. Vì lẽ ấy ta nên
cố gắng trau giồi và phát triển những tư tưởng tốt
đẹp và trong sạch, những khả năng vô cùng tận ngủ
ngầm trong bẩm tánh con người. Muốn được vậy ta
cần phải cố gắng tu tập pháp hành thiền vắng lặng
(samàdhi-sikkhà). Chính nhờ tu tập dần dần mà ta
có thể kiểm soát và điều phục tâm (cittam vasam
vattati) thay vì trở thành nô lệ, bị nó chi phối
(cittassa vasena vattati) [22]. Nhờ dày công rèn
luyện, trau giồi tâm như vậy ta có thể vượt thoát
ra khỏi ảnh hưởng của nhục dục ngũ trần. Tiến bộ
vật chất của thế gian như lợi lộc chẳng hạn, tùy
thuộc một phần lớn vào sự cố gắng của ta. Vậy thì
ta càng phải cố gắng nhiều hơn nữa để rèn luyện
tâm tánh và nhờ đó phát triển những gì quý báu và
cao cả nhất bên trong chúng ta. Và bởi vì công
trình rèn luyện tâm tánh đòi hỏi phải vận dụng mọi
cố gắng, mỗi người cho chính mình, chúng ta hãy
tận lực gia công ngay từ giờ phút này. "Chớ để
ngày tháng trôi đi như bóng mát của đám mây, bay
qua mà không để lại dấu vết gì cho ta nhớ."
Lời Khuyên Hành Giả
Trong kinh điển Phật Giáo có rất nhiều đoạn đề
cập đến pháp hành niệm hơi-thở-vào-thở-ra
(ànàpànassati), và không ai ngạc nhiên khi thấy
Ðức Thế Tôn khuyên dạy sa di Ràhula (La Hầu La)
hành pháp này với đầy đủ chi tiết.
Giờ đây chúng ta hãy trở lại bài kinh số 62 của
bộ Majjhima Nikàya, Trung A Hàm, tựa đề Mahà
Ràhulavàda Sutta:
"Này Ràhula, vị đệ tử rút ẩn dật vào rừng,
dưới một cội cây, hoặc đơn độc một nơi vắng vẻ,
ngồi tréo chân, thân người ngay thẳng và, giác
tỉnh, nhiếp tâm chú niệm.
"Chú niệm, vị ấy thở vô, chú niệm, vị ấy
thở ra; khi thở vô một hơi dài, vị ấy hay biết
'ta thở vô một hơi dài'; khi thở ra một hơi dài,
vị ấy hay biết 'ta thở ra một hơi dài'; khi thở
vô một hơi ngắn, vị ấy hay biết 'ta thở vô một
hơi ngắn'; khi thở ra một hơi ngắn, vị ấy hay
biết 'ta thở ra một hơi ngắn'; 'hay biết trọn
vẹn tiến trình hơi thở [23] ta sẽ thở vô', vị ấy
tự rèn luyện như thế; 'hay biết trọn vẹn tiến
trình hơi thở, ta sẽ thở ra, vị ấy tự rèn luyện
như thế.'
"'Làm lắng dịu tiến trình hơi thở, ta sẽ
thở vô', vị ấy tự rèn luyện như thế; 'làm lắng
dịu trọn vẹn tiến trình hơi thở, ta sẽ thở ra',
vị ấy tự rèn luyện như thế.
"'Chứng nghiệm tâm phỉ, ta sẽ thở vô,' vị
ấy tự rèn luyện như thế; 'chứng nghiệm tâm phỉ,
ta sẽ thở ra', vị ấy tự rèn luyện như thế.
"'Chứng nghiệm tâm lạc, ta sẽ thở vô', vị
ấy tự rèn luyện như thế; 'chứng nghiệm tâm lạc,
ta sẽ thở ra', vị ấy tự rèn luyện như thế.
"'Chứng nghiệm sinh hoạt tâm linh (thọ và
tưởng), ta sẽ thở vô', vị ấy tự rèn luyện như
thế; 'chứng nghiệm những cấu thành của tâm
(hành), ta sẽ thở ra', vị ấy tự rèn luyện như
thế.
"'Làm lắng dịu thọ và tưởng, ta sẽ thở
vô', vị ấy tự rèn luyện như thế; 'làm lắng dịu
hành, ta sẽ thở ra', vị ấy tự rèn luyện như thế.
"'Chứng nghiệm tâm an trụ ở mức cao độ
(jhànic, đắc thiền), ta sẽ thở vô', vị ấy tự rèn
luyện như thế; 'chứng nghiệm tâm an trụ ở mức
cao độ, ta sẽ thở ra', vị ấy tự rèn luyện như
thế.
"'Tâm vô cùng phấn khởi (do thiền vắng
lặng hay thiền minh sát, samatha hay vipassanà),
ta sẽ thở vô', vị ấy tự rèn luyện như thế; 'tâm
vô cùng phấn khởi, ta sẽ thở ra', vị ấy tự rèn
luyện như thế.
"'Tâm an trụ hoàn toàn củng cố (vào hơi
thở), ta sẽ thở vô', vị ấy tự rèn luyện như thế;
'tâm an trụ hoàn toàn củng cố, ta sẽ thở ra', vị
ấy tự rèn luyện như thế.
"'Giải thoát tâm (ra khỏi những chướng
ngại tinh thần, nivàranas, những pháp triền cái)
ta sẽ thở vô', vị ấy tự rèn luyện như thế; 'giải
thoát tâm, ta sẽ thở ra', vị ấy tự rèn luyện như
thế.
"'Quán niệm lý vô thường (trong thân, thọ,
tưởng, hành, thức), ta sẽ thở vô' vị ấy tự rèn
luyện như thế; 'quán niệm lý vô thường, ta sẽ
thở ra', vị ấy tự rèn luyện như thế.
"'Quán niệm hạnh buông xả, ta sẽ thở vô',
vị ấy tự rèn luyện như thế; 'quán niệm hạnh
buông xả, ta sẽ thở ra', vị ấy tự rèn luyện như
thế.
"'Quán niệm trạng thái chấm dứt, ta sẽ thở
vô', vị ấy tự rèn luyện như thế; 'quán niệm
trạng thái chấm dứt, ta sẽ thở ra', vị ấy tự rèn
luyện như thế. "'Quán niệm trạng thái dứt bỏ, ta
sẽ thở vô', vị ấy tự rèn luyện như thế; 'quán
niệm trạng thái dứt bỏ, ta sẽ thở ra', vị ấy tự
rèn luyện như thế.
"Pháp hành niệm hơi-thở-vô-thở-ra, này
Ràhula, nếu được trau giồi như vậy và thường
xuyên thực hành, sẽ đem lại nhiều thành quả tốt
đẹp, nhiều lợi ích trọng đại. Khi pháp quán niệm
hơi-thở-vào-thở-ra được trau giồi như vậy và
thường xuyên thực hành, này Ràhula, thì chí đến
hơi thở-vào-thở-ra cuối cùng cũng được hay biết
rõ ràng lúc nó chấm dứt, không phải không hay
biết." [24]
Có người cho rằng pháp hành thiền này là thấp
kém, vô ích và không đưa đến đâu. Chúng ta cứ để
họ tự nhiên, muốn nói gì thì nói. Hãy để cho các
triết gia luận triết, để cho các nhà hùng biện trổ
tài hùng biện. Hãy tiến bước trên con đường của ta
và thực hành pháp quán niệm của ta. Chí đến Ðức
Thế Tôn xưa kia cũng không tránh khỏi bị người
đương thời chỉ trích vì Ngài xa lánh cuộc sống
"tranh chấp và xung đột thấp hèn của đám đông
cuồng loạn", như ta thấy trong bộ Dìgha Nikàya,
Trường A Hàm, những lời phỉ báng thậm tệ mà đạo sĩ
du phương Nigrodha vung vải vào Ðức Phật: "Tình
trạng sáng suốt của Samana Gotama (Sa Môn Cồ Ðàm)
bị thói quen sống ẩn dật của mình làm suy tàn.
Ngài không ở nhà để dẫn dắt hàng tứ chúng. Ngài
không sẵn sàng để thảo luận. Ngài chỉ bận lo những
việc phụ thuộc bên ngoài. Cũng như con bò chột
mắt, cố tránh né sự va chạm và đi vòng quanh ngoài
rìa, Samana Gotama cũng cùng thế ấy (sống ngoài
rìa cuộc đời và tránh né va chạm)." [25]
Ðúng ra thì không phải lúc nào Ðức Phật cũng
tìm nơi vắng vẻ để ẩn sống một mình. Ngài đi bộ
trên những con đường cái lớn và các nẻo nhỏ, cùng
khắp xứ Ấn Ðộ, bao trùm tất cả trong vừng hào
quang từ ái và bi mẫn của Ngài. Người ta đến với
Ngài, lắng tai nghe, và xin về nương tựa nơi Ngài.
Ðược rọi sáng và dẫn dắt trên con đường dẫn đến an
lạc và giác ngộ, họ bước theo dấu chân Ngài, con
đường rộng mở cho tất cả mọi người. Thỉnh thoảng
Ngài sống đơn độc trong một thời gian.
Năm Pháp Triền Cái
Khi gia công dần dần trau giồi chú niệm, tâm
của hành giả sẽ an trụ vào hơi thở. Chừng đó hành
giả ghi nhận rằng chỉ có hơi thở và cái tâm hay
biết hơi thở, ngoài ra không có gì ở phía sau hơi
thở và tâm hết -- không có một tự ngã hay một thực
thể đơn thuần nào nguyên vẹn, thường còn, không
biến đổi hay một cái gì tương tợ. Hành giả và hơi
thở không phải là hai mà chỉ là một tiến trình,
một hiện tượng tái sanh và hoại diệt suông, giống
như những lượn sóng trên biển cả. Trong ý nghĩa
cao siêu nhất, chỉ có sự hành thiền mà không có
người hành thiền. Nếu hành giả tiến đến mức hiểu
biết trạng thái tâm định của mình như vậy thì mức
độ định tâm của hành giả đã rất cao, và chừng ấy
tâm phỉ lạc, vắng lặng, tự tại cũng phát sanh, và
đó là một loại chứng nghiệm phi thường mà hành giả
chưa bao giờ cảm thọ.
Chứng nghiệm thích thú này có thể chỉ tồn tại
trong chốc lát, rồi tâm của hành giả lại rời đề
mục. Tâm phóng đi và có thể hành giả thấy khó mà
tập trung trở lại. Hành giả có thể cảm nghe uể oải
hoặc buồn ngủ, bồn chồn xao xuyến, và chán nản
dững dưng không còn muốn hành thiền nữa. Không hề
gì, đó là sinh hoạt tự nhiên của tâm. Giờ đây hành
giả đã hiểu biết tâm mình vận chuyển như thế nào,
xuyên qua kinh nghiệm bản thân, chớ không phải qua
sách vở hay nghe nói lại.
Hành giả phải tăng cường lòng nhiệt thành, tập
trung nỗ lực, can đảm xông tới và cố gắng tự quên
mình. Ngày kia hành giả có thể thành đạt những
chứng nghiệm của các tầng thiền (jhàna) bằng cách
loại trừ những chướng ngại tinh thần. Trạng thái
tâm định, lối hành thiền vắng lặng
(samatha-bhàvanà) này, thiết yếu để tiến đến chánh
kiến, hiểu biết thâm sâu và tuệ minh sát
(vipassanà), thành tựu trạng thái tinh thần hoàn
toàn lành mạnh -- Niết Bàn.
Hành giả sẽ gặp nhiều chướng ngại, nhưng đặc
biệt có năm, ngăn trở bước tiến đến trạng thái tâm
an trụ và con đường giải thoát. Năm ấy được gọi là
nìvaranàni [26], năm pháp triền cái, vì nó hoàn
toàn đóng chặt, cắt đứt và ngăn chận. Nó đóng khoá
cánh cửa giải thoát. Năm ấy là gì? Tham dục, ác ý,
dã dượi hôn trầm, phóng dật lo âu và hoài nghi.
Một cái tâm mà bị những năng lực tệ hại như vậy
làm trở ngại ắt không thể thành công an trụ vào đề
mục nào có bản chất thiện. Không có chánh tinh tấn
ắt sẽ không thể khắc phục năm chướng ngại tinh
thần này. Nhiệm vụ của chánh tinh tấn có bốn: ngăn
ngừa, dứt bỏ, khai triển và duy trì. Chánh tinh
tấn là sự cố gắng (a) ngăn ngừa những tư tưởng bất
thiện chưa phát sanh, không để cho nó phát sanh
trong tâm; (b) loại trừ những tư tưởng bất thiện
đã phát sanh; (c) khai triển những tư tưởng thiện
chưa phát sanh và (d) củng cố và bảo trì những tư
tưởng thiện đã phát sanh. [27]
Bốn nỗ lực chân chánh trên là điều kiện tất yếu
không thể không có, để định tâm.
Chánh tinh tấn sinh hoạt chung và cùng lúc với
hai chi kia của nhóm định, tức: chánh niệm và
chánh định. Chánh tinh tấn loại trừ những tư tưởng
bất thiện, vốn ngăn trở tâm an trụ vắng lặng và
khai triển và bảo trì những yếu tố tâm (tâm sở)
thiện giúp trau giồi tâm định. Khi lòng nhiệt
thành của hành giả đình trệ và suy giảm đó là lúc
phải thu hết can đảm, đẩy mạnh nỗ lực và khắc phục
lòng dã dượi hôn trầm. Tình trạng chán nản lười
biếng của tâm và các yếu tố tâm (tâm vương và các
tâm sở) là kẻ thù nguy hiểm của người hành thiền,
vì khi tâm hôn trầm thì dã dượi ắt phát sanh, dẫn
đến dững dưng chai đá.
(xem tiếp phần 10.b)
Chú thích:
[1] Majjhima Nikàya, Trung A Hàm, 26/I. 21.
[2] Samyutta Nikàya, Tạp A Hàm, iii, 100.
[3] Alexandra David Neel, With Mystics and
Magicians (London: Penguin, 1940), mô tả những
diễn biến về Tây Tạng huyền bí rất hứng thú.
[4] Dhammapada, Kinh Pháp Cú, câu 103.
[5] Phật Giáo phủ nhận một linh hồn trường cửu,
một tự ngã bất diệt, hay một thực thể vĩnh tồn,
bởi vì không có gì, dầu hữu tri hữu giác hay vô
giác vô tri, mà tồn tại thường còn, ổn định, vững
bền, không biến chuyển. Tất cả mọi sự vật đều phải
đổi thay, không tồn tại giống nhau trong hai
khoảnh khắc kế tiếp.
[6] International Scala, November 1971.
[7] Time, Volume 100, No. 17, October 1972.
[8] Edward Arambawela, "Meditation Cures
Pressure," Sunday Observer (Ceylon), May 30, 1982.
[9] Dhammapada, Pháp Cú Kinh, câu 243.
[10] Dhammapada, Kinh Pháp Cú, câu 239.
[11] Xem Phụ bản III.
[12] Majjhima Nikàya, Trung A Hàm, 44/I. 301.
[13] Các tầng Thiền (jhàna) này được mô tả với
nhiều chi tiết hơn trong quyển "The Buddha's
Ancient Path" (xuất bản lần thứ năm, 1987), BPS,
cùng một tác giả.
[14] Anguttara Nikàya, Tăng Nhứt A Hàm, I, 61.
[15] Xem phần sau, dưới tiểu tựa "Lời Khuyên
Hành Giả"
[16] Samyutta Nikàya, Tạp A Hàm, 326.
[17] Xem Majjhima Nikàya, Trung A Hàm, 8.
[18] Anguttara Nikàya, Tăng Nhứt A Hàm, iv,
200; Udàna 54.
[19] Majjhima Nikàya, Trung A Hàm, số 10; Dìgha
Nikàya, số 22.
[20] Samyutta Nikàya, Tạp A Hàm, v, 326.
[21] Dhammapada, Kinh Pháp Cú, câu 13.
[22] Majjhima Nikàya, Trung A Hàm, 32/I 214
[23]
Sabba-kàya. Ðúng theo nghĩa từng
chữ là, "toàn thân (của hơi thở)". Theo sách
Visuddhimagga, Thanh Tịnh Ðạo, "kàya" ở đây không
có nghĩa là cơ thể vật chất này, mà là toàn thể
khối hơi thở-vô và thở-ra.
[24]
Tepi viditvà nirujjhanti no aviditàti.
Chú Giải của bài kinh.
[25] Dialogues of the Buddha, Part III, page
35.
[26] Về chi tiết xin đọc Phụ bản IV.
[27] Xem Phụ bản III.
THIỀN
TẬP TRONG PHẬT GIÁO (tiếp theo)
LÁNH XA CỰC ÐOAN
Công
trình trau giồi tâm trí bằng những cố gắng lớn lao
như vậy không thể hoàn thành viên mãn trong một
sớm một chiều. Người hành thiền phải chuyên cần
thực hành một cách kiên trì và đều đặn. Một lực sĩ
hay một người thường muốn được có thân hình tráng
kiện, đẹp đẽ thì không ngừng thao duợt hằng ngày
và luôn luôn theo đúng chương trình tập luyện của
mình. Tập luyện đều đặn mà không quá ép mình một
cách không cần thiết là điểm chánh yếu để thành
công trong công trình trau giồi cơ thể. Người chỉ
cố gắng từng cơn, từng lúc, không thể nào trở
thành một lực sĩ thượng thặng. Khi luyện tập trau
giồi tâm trí cũng vậy, ta cũng phải áp dụng phương
pháp trung dung ấy -- thực hành đều đặn và kiên
trì.
Không cần phải nhọc công chiến đấu chống lại
những ý nghĩ bất thiện phát sanh trong lúc hành
thiền. Phải để cho nó diễn tiến một cách tự nhiên.
Nếu tập trung nỗ lực để xua đuổi những tư tưởng
xấu ấy ắt sẽ không thành công. Ngược lại, phải ghi
nhận và theo dõi, quan sát lúc nó khởi sanh và làm
cho nó lắng dịu dần dần. Tập hành thiền cũng giống
như tập lội. Nếu giữ yên tay chân, không bơi,
không lội, ắt phải chìm. Nếu quơ tay quơ chân quây
vòng vòng, cũng không đi đến đâu. Hoặc nữa, tập
hành thiền cũng giống như người dỗ giấc ngủ. Người
muốn ngủ, nếu nỗ lực tranh đấu ép mình phải ngủ,
sẽ không bao giờ ngủ được yên giấc mà chỉ trằn
trọc thao thức. Giấc ngủ phải đến một cách tự
nhiên, và ta phải để cơ thể nghỉ ngơi mà không có
sự cố gắng nào để ép mình ngủ. Như vậy có thể nói
rằng tập hành thiền là một
"cố gắng trong khi
đó không có cố gắng gì hết", để cho tâm trí
luôn luôn cảnh tỉnh và hay biết trong hiện tại.
Một lần nữa, tự ép mình quá sức là một trong
hai cực đoan mà Ðức Phật muốn cho người hành thiền
nên tránh, vì không bổ ích và không đưa đến trạng
thái vắng lặng -- cực đoan kia là để tâm buông
lung phóng túng. Tự ép xác, như vài đạo sĩ Ấn Ðộ
ngày nay vẫn còn làm, với dụng ý làm cho những tư
tưởng bất thiện không phát sanh, quả thật không
lợi ích gì, bởi vì những lối ép xác khổ hạnh như
vậy thường đưa đến tình trạng khó chịu và bất mãn.
Khi tâm bị phiền lụy hành giả sẽ cảm nghe chán nản
với công phu hành thiền. Tất cả mọi công trình rèn
luyện tâm trí phải được thực hành một cách tự
nhiên, và hành giả luôn luôn giác tỉnh ghi nhận.
"Ép sức cố gắng quá độ và kém thận trọng cũng
giống như cắm đầu chạy mau trong đêm tối".
Cũng như Ðức Thế Tôn chỉ dạy, bất luận ở đâu
người có ước nguyện giải phóng tâm bằng sự giác
ngộ phải cố tránh những cực đoan. Người ấy phải cố
bám vào "Trung Ðạo". Ðể thực hành chánh tinh tấn
cũng vậy, phải giữ con đường ở khoảng giữa, tránh
hai cực doan. Như người kỵ mã để ý trông chừng vó
ngựa của mình, mỗi khi thấy ngựa chạy mau hơn ý
mình muốn thì từ từ gò cương lại, Ðàng khác, nếu
thấy ngựa có vẽ trì chậm lại thì thúc chân cho nó
nhanh lên, và như vậy người ấy có thể giữ đều vận
tốc. Ta phải trau giồi chánh tinh tấn cùng một thế
ấy. Không để quá sức, càng không nên để tinh thần
quá căng thẳng. Cũng không nên dể duôi, buông lơi
trì huởn, càng không nên để tinh thần quá dã dượi.
Cũng như người kỵ mã tài giỏi, ta phải luôn luôn
thận trọng trong sự cố gắng.
Khi lên dây đờn quá thẳng hay quá dùn, người
nhạc sĩ không thể đờn đúng giọng và như vậy, cây
đờn không hữu ích. Ðàng khác, nếu đờn lên dây vừa
đúng, không quá thẳng hay quá dùn thì có thể đờn
đúng giọng và cây đờn sẽ hữu dụng. Cùng một thế
ấy, ép sức cố gắng quá mức sẽ làm cho tinh thần
căng thẳng, còn dể duôi buông lung ắt trở nên lười
biếng dã dượi . Thông hiểu mức độ quân bình của
ngũ căn -- tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn và
tuệ căn (saddhà, viriya, sati, samàdhi, và pannà)
-- là quan trọng như thế nào, ta phải giữ đồng đều
năm chi ấy trong khi cố gắng nhắm đến mục tiêu.
Hiểu Biết Rõ Ràng
Nơi đây cũng nên ghi nhận rằng trong kinh điển
Phật Giáo danh từ
"niệm" (sati) thường được
dùng chung với một danh từ khác cũng đồng nghĩa:
sampajanna, hiểu biết rõ ràng. Danh từ kép
"sati-sampajanna" (chú niệm-hiểu biết rõ ràng)
thường được dùng trong các bài kinh. Niệm và hiểu
biết rõ ràng hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau. Ðó là sự
hiểu biết rõ ràng từng sinh hoạt và mọi tác động
của cơ thể.
Vị hành giả nhiếp tâm chú niệm-hiểu biết rõ
ràng những hoạt động của cơ thể mình, cũng hay
biết oai nghi của mình. Như khi đi, đứng, nằm,
ngồi, hành giả luôn luôn hay biết các tư thế ấy.
Tất cả mọi tác động của thân, vị ấy đều làm với
tâm hoàn toàn giác tỉnh:
"Khi đi tới đi lui, khi nhìn trước mặt hoặc
nhìn một bên, hành giả chú tâm hay biết rõ ràng
(sampajànakàri hoti); khi co tay vào hoặc duỗi tay
ra, hành giả chú tâm hay biết rõ ràng; khi mặc áo,
khi ăn, khi uống, khi nhai, khi nghe vị của thức
ăn, khi đi giải, hành giả chú tâm hay biết rõ
ràng; khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm (sutte),
khi tỉnh giấc (jàgarite), khi nói, và khi giữ im
lặng, hành giả hay biết rõ ràng". Danh từ
"sutte" -- khi dùng để chỉ một oai nghi -- thì
hàm ý là tư thế nằm nhưng một cách chính xác, chữ
này có nghĩa là "trong khi ngủ" hoặc "trong khi
thiu thỉu ngủ". Hành giả nằm xuống với chú niệm
đặt trên đề mục hành thiền (kammatthàna, cũng gọi
là công án), và ngủ với tâm không xao lãng.
Danh từ
"jàgarite" có nghĩa là khi tỉnh
dậy, hoặc khi tỉnh ngủ. Lúc tỉnh giấc, trước khi
mở mắt, hành giả liền nhiếp tâm chú niệm vào đề
mục hành thiền (kammatthàna) tức thì. Danh từ này
cũng có thể áp dụng vào những trường hợp như: (i)
thức dậy một cách giác tỉnh (không để cơn buồn ngủ
lấn áp) khi hành giả gia công chú niệm trong tư
thế nằm (như khi lâm bịnh hoặc vì tật nguyền), và
(ii) trong những đêm thao thức không an giấc, khi
ta cố gắng ép giấc ngủ. Tâm chú niệm và hiểu biết
rõ ràng có thể giúp ta chấp nhận tình thế một cách
bình tĩnh và hiểu biết nguyên do tại sao không ngủ
được. Trong trạng thái tĩnh lặng và hiểu biết ấy
may ra giấc ngủ tự nhiên sẽ đến. Trong ý nghĩa
rộng rãi nhất, hai danh từ "sutte" và "jàgarite"
(khi ngủ và khi tỉnh giấc) vượt xa hơn là hàm xúc
vấn đề nghi thế, vì ta có thể ngủ trong oai nghi
ngồi hay đứng chớ không phải chỉ có nằm mới ngủ.
Trong ý nghĩa cao siêu nhất ta ngủ trong tình
trạng bị ô nhiễm chi phối. Cùng thế ấy, danh từ
"jàgarite" bao hàm trạng thái giác tỉnh, đặc tánh
của hạnh chuyên cần chú niệm (appamàda), trong ý
nghĩa rộng rãi nhất. Ðức Phật dạy:
"Người luôn luôn giác tỉnh, ngày đêm thận
trọng tu niệm (ahorattànusikkhitani) và trọn vẹn
hướng tâm về Niết Bàn, mọi nhiễm ô của người ấy
sẽ biến tan (sẽ bị tận diệt)."
Như vậy, trong tất cả những tác động của thân
như kể trên, và trong tất cả những hoạt động khác,
hành giả phải luôn luôn chú niệm và tỉnh giác. Ðây
là lời dạy của Ðức Thế Tôn: "Này chư tỳ khưu, Như
Lai tuyên bố, trong tất cả mọi việc, ở bất luận
trường hợp nào, chú niệm là thiết yếu." "Nó cũng
như trong cà ry, muối là thiết yếu." ở một đoạn
khác Ðức Thế Tôn dạy: "Chú niệm, quả thật vậy, đem
lại rất nhiều lợi ích lớn lao."
Ta phải nhận định vấn đề chú niệm và hiểu biết
rõ ràng trong ý nghĩa rộng rãi. Lẽ dĩ nhiên tứ
chánh cần, như đã được trình bày ở phần trên, là
một bảo vệ chắc chắn. Chú niệm phải được áp dụng
rộng rãi vào tất cả mọi trường hợp ngay từ lúc
đầu, và như vậy trạng thái vắng lặng của tâm giác
tỉnh sẽ giúp hành giả nắm vững tình thế một cách
sáng suốt. Tuy nhiên (đây là một sắc thái của
Trung Ðạo) có những trường hợp mà hành giả phải
vận dụng pháp tứ chánh cần trong hình thức mạnh mẽ
nhất như đã được chỉ dạy trong kinh
Vitakkasanthàna Sutta, tức là khi mà chú niệm
suông không đủ khả năng chế ngự.
Kinh điển có thuật lại câu chuyện lý thú về Ðại
Ðức Mahà Phussa. Ngài luôn luôn nhiếp tâm chú niệm
và theo dõi những tư tưởng phát sanh đến mình.
Trong khi đi, nếu có một ý nghĩ bất thiện phát
sanh thì Ngài liền dừng chân, và chỉ đi trở lại
khi tâm bất thiện ấy chấm dứt. Nhiều người thấy
vậy ngỡ rằng Ngài bị lãng trí hoặc đã đánh lạc mất
vật gì trên đường đi. Về sau, nhờ thường xuyên chú
niệm và hiểu biết rõ ràng như vậy Ngài thành tựu
mỹ mãn ước nguyện thanh lọc hoàn toàn tâm trí và
trở thành một vị A La Hán, đấng Trọn Lành, người
tuyệt đối trong sạch, không còn mảy may ô nhiễm
nào. Ðiều này cho thấy rằng các bậc thầy tổ từ
ngàn xưa chẳng những quan sát và hay biết tâm mình
trong khi ngồi thiền vào những giờ giấc nhất định,
mà luôn luôn từng giây, từng phút, không ngừng
nghỉ.
Nghệ Thuật Nghỉ Ngơi
Khi ngồi thiền một ít lâu hành giả có thể cảm
nghe tay chân mệt mỏi hay đau nhức và thấy cần
được thoải mái. Chừng đó hành giả có thể bắt đầu
đứng dậy đi, thường được gọi là kinh hành, hay
thiền hành. Từ lúc chuẩn bị đứng dậy hành giả
không phải chú tâm vào hơi thở nữa mà chuyển sự
chú tâm vào mọi tác động của cơ thể mình. Hành giả
đi chậm chậm và luôn luôn theo dõi từng cử động.
Nếu thấy tâm phóng thì kéo nó trở về theo dõi oai
nghi đi mà không dính mắc vào ý nghỉ nào khác. Khi
chân chấm đất, hãy ghi nhận và hay biết cảm giác
xúc chạm này. Ði cũng là một đề mục hành thiền,
hay nói cách khác, cũng là một phương cách để rèn
luyện tâm giác tỉnh.
Trong khi theo học một khóa thiền hành giả hãy
cố gắng luôn luôn giữ tâm giác tỉnh, bất luận ở
đâu và bất cứ đang làm gì, ngồi, đứng, đi, làm
việc, ăn, uống v.v... , hãy luôn luôn chú niệm.
Trong khi ngồi thiền nếu hành giả tê chân quá,
hãy duỗi chân ra, lấy tay xoa bóp. Hành giả cũng
có thể nghỉ ngơi trong tư thế nằm. Sau khi ngồi
lâu mệt mỏi có thể nằm trên ván hoặc trên giường
mặt bằng phẳng. Hành giả nằm ngửa và cố gắng không
dùng gối để gối đầu. Hai chân thong thả duỗi ra
cách nhau không xa và hai tay thoải mái để dọc
theo thân mình, mắt nhắm. Không suy tư sâu xa mà
nhẹ nhàng để tâm nghỉ ngơi nhưng không phóng dật.
Hãy để cho mỗi bắp thịt được nghỉ ngơi và toàn
thân thong thả tự nhiên trong vài phút. Ðôi khi
hành giả có thể ngủ quên vài phút! Sau khi nghỉ
ngơi hành giả cảm nghe khỏe khoắn dễ chịu, sẵn
sàng để hành thiền trở lại. Hành giả có thể nghỉ
ngơi như thế đó, không những trong thời gian hành
thiền mà bất luận lúc nào trong ngày, khi nghe
mình mệt mỏi hoặc cảm thấy cần phải nghỉ.
Thiếu Nữ Hoa Hậu
Phương pháp luyện tâm hiểu biết rõ ràng từng
động tác của thân giúp ta diệt trừ những tư tưởng
sai lạc, tăng trưởng năng lực tâm an trụ và phát
triển trạng thái giác tỉnh cũng như đức chuyên cần
tinh tấn.
Ðức Phật có thuật một câu chuyện ngụ ngôn để
nhấn mạnh tầm quan trọng của công phu phát triển
pháp niệm thân như sau:
"Này chư tỳ khưu, thí dụ như có một đám đông
người đang tụ hợp và la ó, 'xem kìa, thiếu nữ
tuyệt đẹp, quả thật là hoa hậu của xứ này!' Lúc
bấy giờ, này chư tỳ khưu, thiếu nữ xinh đẹp
tuyệt trần kia, điêu luyện về nghệ thuật khiêu
vũ và ca hát, phô trình tài nghệ mình với tất cả
duyên dáng vô cùng hấp dẫn. Ðám đông ngày càng
đông thêm người, và họ la dậy, 'xem kìa, thiếu
nữ tuyệt trần đang vũ, đang ca hát!'
"Vừa lúc ấy có chàng thanh niên rất ham sống,
không thích chết, rất ưa hưởng thụ lạc thú,
không muốn đau khổ, và đám đông nói với chàng:
'Này anh chàng kia, hãy nhìn kìa! Ðây là một cái
chén đựng dầu đầy đến miệng. Anh phải bưng chén
dầu ấy đi giữa đám đông người và thiếu nữ hoa
hậu tuyệt đẹp. Ngay phía sau anh có tên đao phủ
theo bén gót, tay cầm thanh kiếm sẵn sàng. Nếu
anh làm đổ một giọt dầu thì tức khắc đầu anh sẽ
rơi xuống đất!'
"Giờ đây, này chư tỳ khưu, các con nghĩ thế
nào? Chàng thanh niên kia dám xao lãng mà không
chú tâm vào chén dầu không? Anh chàng có nhìn
quanh quẩn và lo nghĩ chuyện đâu đâu, ngoài chén
dầu không?
"Bạch Ðức Thế Tôn, chắc chắn là không.
"Ðúng vậy, này chư tỳ khưu, đây là một câu
chuyện ngụ ngôn mà Như Lai nói ra để làm sáng tỏ
những gì Như Lai muốn dạy. Những lời ấy là: Cái
chén đựng dầu đầy đến miệng là pháp niệm thân.
Như vậy, tự các con phải tự rèn luyện như sau:
'Ta phải thực hành pháp niệm thân, phải gia
công chuyên cần chú niệm, phải nương tựa nơi
pháp này, phải dùng pháp này như một phương
tiện, phải kiên cố gìn giữ và làm cho pháp này
công hiệu. Pháp niệm thân phải được tăng trưởng
và thường xuyên áp dụng thực hành.'
"Như thế ấy, này chư tỳ khưu, các con phải tự
rèn luyện."
Pháp niệm thân (kàyànupassanà) không phải chỉ
bao gồm có pháp niệm hơi-thở-vào-thở-ra --
ànàpànassati chỉ là một trong mười sáu phần của
pháp niệm thân -- mà còn những pháp khác nữa như
quán niệm về bản chất ô trược của cơ thể vật chất
(asubha) v.v...
Sắc Ðẹp Mỏng Manh Như Lớp Da
Như bài kinh giải thích, người hành thiền suy
niệm về chính cái thân này, được bọc bên ngoài
bằng một lớp da và bên trong chứa đầy uế trược, từ
gót chân lên đến đỉnh đầu và từ tóc trở xuống.
Hành giả quán niệm: "Trong cơ thể này, đây là tóc,
lông, móng tay, móng chân, răng, thịt, gân, xương
v.v..." Như thế ấy hành giả quán chiếu tánh cách ô
trược của thân.
Ðây có thể không phải là một đề mục hành thiền
có nhiều thích thú đối với người phương Tây. Riêng
đối với các bạn trẻ, dầu ở phương Ðông hay phương
Tây, vẫn không thích xem cơ thể này là ô trược.
Tuy nhiên, dầu chúng ta có thích hay không, nếu
bình tâm quan sát một cách khách quan "tấm thân
dài một sải" này, chúng ta sẽ không tìm thấy trong
đó có gì đẹp đẽ như trân châu, như ngọc báu v.v...
mà chỉ là một khối uế trược. "Sắc đẹp chỉ ăn sâu
bằng bề dày của lớp da" (dưới lớp da mỏng manh này
chỉ là thịt, gân, xương, ruột, gan, phèo, phổi
v.v... chẳng có gì là đẹp). Dầu là thanh niên,
thiếu niên, hay niên cao tuổi lớn, chúng ta cũng
nên thấu hiểu thực tại mà ta phải đối phó, cùng
với ba đặc tánh của đời sống: sanh, già và chết.
Chúng ta sống, thương yêu nhau và vui cười với
nhau, trong lúc ấy kiếp sống của chúng ta đang bị
tuổi già lấn dần, bị những cảnh vô thường biến đổi
siết chặt dần và những đặc tánh kia quả thật cố
hữu dính liền với mọi kiếp sinh tồn -- cũng như
màu xanh dính liền với cỏ, như chất đắng cố hữu
trong ký-ninh -- điều mà tất cả phép mầu và năng
lực của khoa học không hề biến chuyển được.
"Dường như cánh hoa hồng
Ðẹp tợ nhung mà bạn thấy,
Như những nụ hoa vừa chớm nở trên cây,
Như cành mai vô cùng xinh đẹp,
Như buổi bình minh,
Như ánh thái dương, như bóng mát,
Như trái bầu quý báu mà Jonas có trước kia,
Con người cũng dường thế ấy!
Từ ống chỉ tuổi thọ, chỉ được kéo ra,
Và kéo ra, và cứ thế, kéo ra dần dần.
Cánh hồng héo xào,
Những nụ hoa tung toé rơi trước gió,
Mai tàn, bình minh trôi qua,
Mặt trời lặn, bóng mát bay đi,
Trái bầu hư hoại; và con người chết.
Con người cũng cùng thế ấy, chỉ sống từng hơi
thở,
Nay chỗ này, mai nơi khác, dường thế ấy, sống và
chết.
Con người cũng cùng thế ấy,
Chồng chất bao nhiêu phiền muộn ưu sầu,
Chỉ sống trong ngày nay, và ngày mai sẽ ra đi.
Bản hành ca thật là ngắn ngủi,
Quả thật ngắn ngủi, cuộc hành trình!
Quả đào chắc chắn phải chín mùi, rồi ung thúi,
Quả mận ắt phải rơi lìa cành,
Tuyết phải tan, và dường thế ấy, mọi sự vật."
Một quan niệm về đời sống như thế ấy không phải
là bi quan, cũng không phải lạc quan, mà thực
tiễn. Ðừng ai nghĩ rằng cái nhìn vào đời sống và
vào thế gian của người Phật tử là đen tối, buồn
thảm, và người Phật tử có tinh thần thấp kém. Nghĩ
như vậy là xa lìa hẳn sự thật. Người Phật tử vẫn
đi xuyên qua kiếp sống với một nụ cười.
Từ pháp niệm thân (kàyànupassanà) ta hãy tiến
sang
pháp niệm thọ (vedanànupassanà). Người
hành theo pháp này giác tỉnh chú tâm vào những cảm
giác, hay thọ, của mình: vui sướng, đau khổ hoặc
trung hoà -- không vui sướng cũng không đau khổ.
Khi chứng nghiệm một cảm giác vui, hành giả biết
"đây là thọ lạc", bởi vì chính mình đã theo dõi,
quan sát và hay biết những thọ cảm của mình. Cùng
thế ấy hành giả hay biết các cảm thọ khác và cố
gắng chứng nghiệm một cách giác tỉnh các cảm giác
ấy theo đúng thực tế, đúng như thật sự nó là như
thế ấy. Thế thường, người ta thất vọng khi chứng
nghiệm thọ khổ và phấn khởi vui sướng khi hưởng
thọ lạc. Công phu niệm thọ giúp cho hành giả chứng
nghiệm tất cả những cảm thọ một cách khách quan
với tâm xả (bình thản, quân bình, không chao
động), và tránh cho con người khỏi bị cảm thọ chi
phối, khỏi phải bị lệ thuộc hay làm nô lệ cho cảm
giác mình. Do nhờ thiền minh sát (vipassanà) hành
giả cũng học nhận thức rằng chỉ có thọ, một cảm
giác, và chính thọ ấy cũng phù du tạm bợ, đến rồi
đi, sanh rồi diệt, và không có một thực thể đơn
thuần nguyên vẹn hay một tự ngã nào thọ cảm.
Niệm tâm (cittànupassanà), pháp thứ ba trong
tứ niệm xứ, nói lên cho chúng ta tầm quan
trọng của công trình khảo sát tìm hiểu tâm mình và
của sự hay biết những tư tưởng phát sanh đến mình.
ở đây những tư tưởng này là những tư tưởng tham,
sân, si, nguồn gốc khởi phát tất cả những hành
động lầm lạc, bất thiện và những tư tưởng đối
nghịch, có tánh cách thiện, từ đó phát xuất những
hành động tốt, tạo nghiệp lành. Thay vì nhìn đó là
những tư tưởng tham ái, hành giả nhìn cái tham chỉ
là một trạng thái tâm (saràgam cittam v.v...).
Xuyên qua pháp niệm tâm hành giả cố gắng thấu
đạt cả hai, những trạng thái tâm bất thiện và
những trạng thái tâm thiện. Hành giả quán chiếu,
nhìn thấy cả hai mà không dính mắc luyến ái hay
bất mãn khó chịu. Phương pháp bình thản quán chiếu
tâm mình một cách khách quan giúp cho hành giả
thấu đạt cơ năng thật sự của tâm và những sinh
hoạt tâm linh -- bản chất thật sự và hoạt động
thật sự của tâm. Những ai thường xuyên niệm tâm sẽ
học được phương cách kiểm soát tâm mình.
Một đặc điểm của thế gian ngày nay là nông cạn,
chỉ thấy lớp bên ngoài sự vật. Con người hiện đại
sẽ thẳng tay bác bỏ những lời này, nhưng nếu có
thể nhìn trở lại vào chính mình một cách vô tư thì
người ấy sẽ không phủ nhận thực tại. Con người
hiện đại không chịu dừng bước để suy tư sâu xa.
Cái hình dáng bề ngoài đã chiếm hết tâm trí họ. Ta
hãy nhìn xem đến mức độ nào con người hiện đại bị
các quảng cáo thương mại và các hàng hoá trưng bày
trong tủ kiếng các tiệm buôn ảnh hưởng. Nếu các
quảng cáo và hàng hóa trưng bày không ảnh hưởng
con người ắt các chủ tiệm sẽ không chịu bỏ ra
những số tiền lớn lao vào đó. Phương pháp hành
thiền trong Phật Giáo là phương thuốc trị liệu có
tác dụng chữa trị chứng bịnh nông cạn ấy:
città-nupassana, pháp niệm tâm tức tự quán chiếu
nội tâm, theo dõi và hay biết những tư tưởng phát
sanh đến mình.
Con người hiện đại rất ít khi suy tư một cách
độc lập. Rất ít khi họ có một quan kiến riêng của
chính họ. Thời trang quần áo mà họ mặc, hiệu hàng
hóa mà họ mua, tất cả, họ đều nhờ những người làm
quảng cáo, những người rao hàng, định đoạt giùm
cho họ. Họ bị các khẩu hiệu chính trị gây xúc động
thật là dễ dàng! Những khẩu hiệu và những lời
tuyên truyền trong chính trường hình như uốn nắn
tâm trí con người, và đời sống có chiều hướng trở
nên máy móc, con người trở thành bù nhìn, do kẻ
khác điều khiển và kiểm soát.
Con người hiện đại hình như thấm nhuần đủ loại
ý niệm, quan kiến, dư luận và lý thuyết. Họ được
dưỡng nuôi bằng phim ảnh. Tâm trí họ được un đúc
bằng vô tuyến truyền hình và rèn luyện bằng vô
tuyến truyền thanh. Ngày nay, những gì được trình
bày trên báo chí, trên đài phát thanh, truyền
hình, một vài loại phim ảnh, một số văn chương và
phim ảnh thuộc loại tâm lý có tính cách khiêu dâm,
có khuynh hướng làm cho con người rối loạn, lầm
lẫn, và đưa con người ra khỏi đường lối chân chánh
và hiểu biết sáng suốt.
Nhưng người thường xuyên giác tỉnh chú niệm sẽ
được bảo vệ chống lại các năng lực hấp dẫn và tế
nhị của nhà làm quảng cáo, được bảo vệ chống lại
những tiếng la ó vang rền của nhà tuyên truyền và
được bảo vệ chống lại những ảnh hưởng khủng khiếp
của các phong trào đại chúng.
Một điểm suy nhược khác của con người hiện đại
là ham muốn thay đổi, và họ muốn các thay đổi ấy
nhanh chóng đi đến kết quả. Thiếu sót lớn lao của
họ là trạng thái vắng lặng. Vắng lặng tạo sức mạnh
tâm trí. Thiếu vắng lặng đưa đến tình trạng bồn
chồn nóng nảy, không nhẫn nhục, và con người mà
không nhẫn nhục sẽ không bao giờ thỏa mãn, không
bao giờ toại nguyện. Người ấy luôn luôn muốn một
cái gì mới lạ, muốn tìm cảm xúc mạnh. Người ấy sẽ
lấy làm thất vọng nếu sáng ra cầm tờ báo lên mà
không thấy hàng tít lớn "giựt gân".
Con người hiện đại khát khao những gì mới lạ.
Họ thèm muốn những xúc động mạnh. Họ được dưỡng
nuôi bằng những cảm xúc mạnh. Họ sẽ luôn luôn nóng
nảy ước vọng điều mới lạ. Họ sẽ hết lòng mong mỏi
những phương pháp mới, những cơ khí mới, những
thuốc mới, một lối sống mới, một chủ nghĩa mới, và
không bao giờ chấm dứt. Thái độ tân thời ấy là dấu
hiệu của một chứng bịnh tâm thần --bịnh phóng dật,
vọng động, không an tĩnh.
Nơi đây, một lần nữa, giác tỉnh chú niệm là
phương thuốc khẩn thiết trọng yếu. Hiểu theo một
lối, chú niệm có nghĩa là vắng lặng, và trạng thái
tâm vắng lặng làm cho đời sống quân bình. Ðược rèn
luyện để đạt đến tình trạng tĩnh lặng, hành giả sẽ
không ôm ấp dưỡng nuôi những khát vọng không cần
thiết.
"Người ấy sẽ đi xuyên qua những thăng
trầm của cuộc sống một cách bình thản" (visame
samam caranti)
Công trình niệm tâm cũng giúp hành giả nhận
thức rõ ràng rằng cái được gọi là tâm chỉ là một
tiến trình luôn luôn biến đổi, gồm những trạng
thái tâm cũng luôn luôn biến đổi, và trong đó
không có gì như một thực thể nguyên vẹn, đơn
thuần, gọi là ta hay bản ngã.
Pháp chú niệm thứ tư là
dhammànupassanà,
niệm pháp. Pháp này bao gồm tất cả những lời
dạy chánh yếu của Ðức Phật, phần lớn đã được thảo
luận trong quyển "The Buddha's Ancient Path", cùng
một tác giả với sách này.
Niệm pháp không phải là suy tư hay luận lý
suông mà cùng đi chung với tâm giác tỉnh chú niệm
và phân biện, hay biết những đối tượng của tâm ấy
như thế nào, khi nó phát sanh và chấm dứt
(samudayavaya). Thí dụ như khi có tham dục hiện
hữu hành giả hay biết, "có tham dục phát sanh đến
ta". Hoặc khi không có tham dục, hành giả hay
biết, "không có tham dục ở ta" v.v... Hành giả
cũng chú niệm như thế ấy đối với các pháp triền
cái (nìvaranàni) khác.
Cùng một thế ấy hành giả giác tỉnh chú niệm và
phân biện ngũ uẩn thủ (panca-upàdànakkhandhà) --
sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Hành giả giác tỉnh chú niệm, phân biện lục căn
(nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý) và lục trần (sắc,
thinh, hương, vị, xúc, pháp). Nơi đây hành giả
thấu đạt rành rẽ đây là mắt, đây là hình thể và
thấu hiểu thằng thúc nào phát sanh tùy thuộc nơi
nhãn căn và nhãn trần ấy; Hành giả thấu đạt rành
rẽ tai và âm thanh ... mũi và mùi ... lưỡi và vị
... thân và vật được xúc chạm ... ý và đối tượng
của tâm, và thấu hiểu những thằng thúc nào phát
sanh tùy thuộc nơi những căn và những trần ấy.
Hành giả cũng thấu đạt sự chấm dứt của những thằng
thúc ấy.
Cùng một thế ấy hành giả phân biện
thất
giác chi (satta bojjhanga, bảy chi của sự
giác ngộ) và
tứ diệu đế (cattàri
ariyasaccàni). Nơi đây tứ diệu đế không thuộc về
loại hiểu biết ở tầng lớp trí thức, hiểu biết bằng
cách luận lý, mà là những gì hành giả gặp thấy và
thật sự chứng nghiệm.
Như thế ấy hành giả giác tỉnh chú niệm, quán
chiếu và thấu đạt các pháp, đối tượng của tâm.
Hành giả sống độc lập, hoàn toàn không bám níu vào
bất luận gì trên thế gian. Tứ niệm xứ là pháp mà
tất cả các sắc thái khác của Giáo Pháp (Dhamma)
đều tập trung hướng về.
Trong bài kinh Niệm Xứ, mỗi đoạn mô tả một
"niệm xứ" đều chấm dứt bằng câu:
"Hành giả sống
độc lập, không bám níu vào bất luận gì trên thế
gian; bởi vì "mọi sự vật đều không bền vững."
Ðó là mục tiêu mà hành giả nhắm đến, là cứu cánh
mà hành giả hết lòng ước nguyện thành đạt và tận
lực gia công thành tựu. Nơi đây, "sống độc lập" có
nghĩa là đã vượt lên, thoát ra khỏi ái dục và tà
kiến (tanhà, ditthi), và "thế gian" là thế giới
của chúng sanh, cái thế gian "tâm-vật-lý" của
chính mình. Hành giả không còn bám níu vào tiến
trình danh-sắc này, và không xem đó là một bản ngã
thường còn, một thực thể đơn thuần, hay một cái
"ta" vĩnh cửu.
Câu Chuyện Chiếc Bè
Sở dĩ chúng ta bám bíu, đeo níu vào những sự
vật, vô tri vô giác hay hữu giác hữu tri, là vì
chúng ta còn tham, còn muốn có. Nếu có thể tự rèn
luyện nghệ thuật nhìn sự vật với tâm bình thản,
không luyến ái, chừng đó ắt chúng ta học được pháp
buông xả, để cho tất cả trôi qua. Dây trói buộc
chúng ta không phải ở trong giác quan hay trong
đối tượng của giác quan. Nó ở trong lòng tham ái
của chúng ta, khởi phát khi giác quan tiếp xúc với
đối tượng của nó. Như vậy, vấn đề và đường lối
giải quyết vấn đề, chứng bịnh và phưong thức trị
liệu, đều nằm bên trong chúng ta. Hãy tự rèn luyện
nghệ thuật từ khước, buông bỏ. Ðúng thật là rất
khó mà sống không bám níu vào bất luận gì trên thế
gian, và sự cố gắng của chúng ta nhằm tiến đạt đến
mức độ tinh thần cao siêu ấy xem chừng như vượt
quá tầm khả năng của chúng ta. Mặc dầu vậy, đây là
một thành tựu đáng cho ta kiên trì và liên tục gia
công. Có nhiều vị đã tận lực gia công, kiên trì cố
gắng, và vượt đến tuyệt đỉnh tinh thần trong chính
kiếp sống này. "Hãy gieo một hành động và gặt hái
một thói quen, Hãy gieo một thói quen và gặt hái
một tâm tánh. Hãy gieo một tâm tánh và gặt hái một
định mạng -- bởi vì tâm tánh là định mạng."
Về điểm này Ðức Phật có dạy câu chuyện ngụ ngôn
chiếc bè rất là hứng thú. Hãy lắng tai nghe lời
Ngài:
"Này chư tỳ khưu, Như Lai sẽ thuật cho các
con nghe câu chuyện chiếc bè, để dạy rằng Giáo
Pháp phải được xử dụng để sang sông chớ không
phải để ôm giữ. Hãy thận trọng chú tâm lắng
nghe."
"Bạch Ðức Thế Tôn, chúng con xin vâng," các
vị tỳ khưu trả lời. Ðức Phật dạy tiếp:
"Này chư tỳ khưu, trong cuộc hành trình dài
dẳng người kia đi đến một con sông rộng lớn,
ngăn ngang trước mặt. Bờ bên này thì đầy hiểm
nguy rất đáng sợ. Bên kia thì an toàn. Nhưng
không có thuyền hay cầu để sang sông. Người kia
nghĩ: 'Thật là rộng lớn, con sông này quả thật
là rộng, bờ bên này đầy hiểm hoạ, nhưng bên kia
thì châu toàn. Vậy ta nên quơ nhặt cây, nhánh và
cỏ, lá để kết thành chiếc bè rồi sẽ dùng cả tay
lẫn chân để bơi sang bờ bên kia.'
"Và lúc ấy, này chư tỳ khưu, người kia kết
thành chiếc bè và tận lực cố gắng dùng cả tay
lẫn chân bơi sang sông một cách an toàn. Khi đã
đến bờ bên kia người ấy suy nghĩ: 'Chiếc bè này
quả thật là hữu dụng. Nhờ nó mà ta sang được đến
bờ bên này một cách châu toàn. Vậy, dầu có đi
đâu ta cũng nên đội nó trên đầu hay vác nó trên
lưng.'
"Này chư tỳ khưu, các con nghĩ thế nào? Nếu
hành động như vậy người ấy có xử dụng chiếc bè
một cách thích nghi không?"
"Bạch Ðức Thế Tôn, không."
"Bây giờ, thí dụ như người ấy đã được đến bờ
bên kia một cách châu toàn rồi nghĩ rằng: 'Chiếc
bè này thật hữu dụng, nhờ nó mà ta đã vượt đến
bờ bên này một cách châu toàn. Vậy ta nên kéo nó
lên bãi, hoặc để nó trôi đâu cũng được, phần ta
thì hãy thong dong, mặc tình muốn đi đâu tùy ý.'
Nếu hành động như vậy, này chư tỳ khưu, ắt người
kia đã xử dụng chiếc bè một cách thích nghi.
Cũng dường thế ấy, này chư tỳ khưu, Như Lai
lấy câu chuyện chiếc bè làm hình ảnh cụ thể để
dạy rằng công dụng của Giáo Pháp là giúp ta vượt
sang bờ bên kia, chớ không phải để ôm giữ. Này
chư tỳ khưu, đã thấu hiểu ý nghĩa của Giáo Pháp
(Dhamma) mà Như Lai dùng câu chuyện chiếc bè để
dạy, các con hãy buông bỏ các thiện pháp
(dhamma); càng phải buông bỏ hơn nữa những pháp
bất thiện (adhamma)."
Ta thích thú ghi nhận rằng theo Bản Chú Giải,
danh từ
"dhamma" mà ở đây được phiên dịch
là
"thiện pháp", có nghĩa là tâm vắng lặng
hay tâm định (samatha) và tuệ minh sát
(vipassanà). Chí đến những trạng thái tinh thần
cao siêu như vậy, khi đã đạt đến rồi hành giả cũng
không nên bám níu hay dính mắc, mà phải buông bỏ.
Khỏi cần đề cập đến các pháp bất thiện.
Cái Nhìn Chủ Quan và Cái nhìn Khách Quan
Trong bài kinh Satipatthàna Sutta, Niệm Xứ, chú
niệm chỉ đặc biệt liên quan đến bốn "xứ": thân,
thọ, tâm và pháp. Pháp niệm thân giúp ta nhận thức
rành mạch và tận tường bản chất thật sự của vạn
pháp bằng cách phân tách sự vật chí đến mức cùng
tột, đến thành phần cơ bản cuối cùng. Công trình
nhận xét vô cùng tỉ mỉ chính bản thân mình giúp ta
thấu triệt rằng thân này chỉ là một tiến trình
luôn luôn biến chuyển, trong đó không có một thực
thể hay một đơn vị nào có thể được xem là bền
vững, thường còn.
Một điểm đặc biệt của tâm sở "niệm" tối quan
trọng này là nó bao hàm phương pháp nhìn sự vật
một cách khách quan, thay vì chủ quan. Vậy ta cần
phải hiểu rõ sự khác biệt giữa cái nhìn chủ quan
và cái nhìn khách quan. Pháp tứ niệm xứ phải được
thực hành một cách khách quan, không có phản ứng
chủ quan nào. Ðiều này có nghĩa là hành giả chỉ
quan sát suông, không vấn vương dính mắc với đề
mục, không thấy mình liên hệ với đề mục. Chí đến
chừng ấy hành giả mới có thể nhìn thấy hình ảnh
thật sự của sự vật -- thấy sự vật đúng trong bối
cảnh của nó, đúng như thật sự sự vật là vậy, chớ
không phải thấy phớt bề ngoài, hình như sự vật là
vậy.
Khi quan sát vật gì một cách chủ quan thì tâm
ta dính mắc trong ấy, và ta cố gắng tự đồng hoá
với nó. Ta cố gắng suy xét, ước đoán, đánh giá,
khen chê và phê bình vật ấy. Quan sát như vậy sự
quan sát của ta sẽ bị nhượm màu. Vậy, hành tứ niệm
xứ -- tức niệm thân, niệm thọ, niệm tâm và niệm
pháp -- hành giả phải quan sát một cách vô tư,
không quanh co, không thành kiến ưa thích hay ghét
bỏ, hoặc có ước đoán hay ý niệm nào trước. Nói
cách khác, chú niệm phải được thực hành một cách
khách quan, giống như ta là người ở ngoài nhìn vào
mà không có bất luận thành kiến nào.
Khi "niệm thân trong thân" (kaye kàyànupassi)
hành giả chỉ chú tâm vào thân mà thôi, không để ý
gì đến những cảm giác (thọ), đến những trạng thái
tâm (tâm), hay những đối tượng của tâm (pháp) liên
quan đến thân. Về điểm này ta nên nhớ nằm lòng
phương cách chính xác và rõ ràng mà Ðức Phật dạy
đạo sĩ Bàhiya. Ông ta là vị lãnh đạo của một giáo
phái và ông tin rằng mình đã đắc Quả A La Hán, bậc
ùng Cúng. Nhưng về sau, nghe lời khuyên của một
người khác ông đến xin Ðức Phật truyền dạy cho một
pháp hành có thể đưa đến Ðạo Quả A La Hán. Ðức
Phật biết rằng Bàhiya là người hiểu biết. Ngài dạy
những lời như sau:
"Này Bàhiya, hãy rèn luyện như thế này:
'Trong cái thấy phải biết rằng chỉ có sự thấy,
trong cái nghe chỉ có sự nghe, trong xúc cảm
(như hay biết mùi, vị và xúc giác) phải biết
rằng chỉ có xúc cảm, và trong khi hay biết, chỉ
có sự hay biết.'"
Ở đây, ý niệm "Tôi đang thấy, tôi đang nghe,
đang hưởi, đang nếm, đang sờ đụng, đang ý thức" đã
được loại trừ. Quan niệm về cái "ta", hay ảo kiến
về một bản ngã, đã tan biến. Phương cách chú tâm
này loại trừ tình trạng căng thẳng, làm cho tâm
trở nên vắng lặng và nghỉ ngơi. Vì lẽ ấy người
hành thiền không thấy cần phải ngủ nhiều. Khỏi cần
bàn đến thành quả của pháp hành thiền ở mức độ
cao, chỉ riêng nghệ thuật nhìn vào và thấy các
hiện tượng thiên nhiên không thôi cũng có nhiều
người không biết, bởi vì nhiều người không bao giờ
tập luyện nhìn sự vật một cách khách quan.
Thí dụ như đang nhìn một cảnh hoàng hôn đẹp đẽ,
nếu ta bắt đầu quán xét và phê bình, quan sát một
cách chủ quan, tâm trạng ấy đem ta đến rất gần,
rung động cùng nhịp, và sống với cảnh vật, mà
không thấy cái đẹp của cảnh trời chiều. Ta không
thật sự thấy cái đẹp của cảnh mặt trời lặn. Nhưng
nếu nhìn một cách khách quan với tâm hồn an tĩnh
và vắng lặng, trọn vẹn chú tâm, ta sẽ thưởng thức
đầy đủ cái đẹp của cảnh hoàng hôn và cũng thấy
được rằng cái mà ta gọi là "đẹp" ấy chỉ phù du tạm
bợ, vô thường và không ngừng biến chuyển. Thí dụ
kể trên có thể áp dụng vào nhiều trường hợp. Nếu
ta có thể nhìn một nụ hoa hồng hay một cành hoa
sen vừa chớm nở một cách khách quan, không có phản
ứng chủ quan, ắt ta sẽ thấy cái đẹp của nó, thấy
trọn vẹn và rõ ràng hơn nhiều người khác. Nếu là
người yêu nhạc và trọn vẹn chú tâm lắng nghe tiếng
nhạc, có thể ta thưởng thức điệu nhạc hơn là người
nhạc sĩ đang lo lắng trong kỹ thuật trình diễn.
Vắng Lặng và Minh Sát
Dầu tiến đạt đến mức độ khá cao của tâm định
vắng lặng (samàdhi) hành giả vẫn chưa ở trong vị
thế châu toàn, bởi vì những khuynh hướng ô nhiễm
ngủ ngầm (anusaya) vẫn chưa được hoàn toàn loại
trừ. Các bợn nhơ tinh thần ấy chỉ tạm thời ngủ
ngầm và có thể phát hiện trở lại bất cứ lúc nào mà
hoàn cảnh thuận tiện, và đầu độc tâm trí nếu hành
giả lơ đểnh dể duôi, không dũng mãnh kiên cố chánh
tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Vì lẽ chưa
hoàn toàn loại trừ các bợn nhơ ngủ ngầm trong tâm,
hành giả chưa tuyệt đối thanh tịnh và còn có thể
bị những thúc giục bất thiện lôi cuốn, chưa ở
trong trạng thái tuyệt đối châu toàn. Tâm hành giả
vắng lặng nhờ định (samàdhi). Nhưng chính nhờ
thiền minh sát (vipassana) mới có thể tận diệt các
pháp bất thiện ngủ ngầm. Do đó, vị hành giả đã tu
tập trong giới và định, phát triển tuệ minh sát.
Như vậy, công phu hành thiền nhằm phát triển tâm
định vắng lặng (samàdhi) không bao giờ tự nó là
mục tiêu cứu cánh. Nó chỉ là phương tiện nhằm đưa
đến cái gì cao siêu hơn, một cái gì tối quan
trọng: Tuệ minh sát, vipassanà. Nói cách khác tâm
định chỉ là phương tiện để thành tựu chánh kiến,
chi đầu tiên của Bát Chánh Ðạo. Mặc dầu chỉ là
phương tiện, tâm định có một vai trò tối quan
trọng trên Con Ðường. Nó còn được gọi bằng một tên
khác là citta-visudhi, tâm tịnh, và hành giả hoàn
tất giai đoạn này của Thanh Tịnh Ðạo bằng cách
tiêu trừ các pháp triền cái. Ðức Phật dạy:
"Hãy
phát triển tâm vắng lặng. Vị đệ tử đã thành đạt
tâm vắng lặng thấy sự vật đúng như sự vật là vậy"
(samàdhim bhàvetha, samàhito yathà bhùtam
pajànàti).
"Có hai pháp (dhamma), này chư tỳ khưu, phải
được phát triển để thấu hiểu tham, sân, si ...
Hai ấy là gì? -- vắng lặng và minh sát. Hai pháp
ấy phải được trau giồi và phát triển để tiêu
trừ, tận diệt và chấm dứt tham, sân, si ..."
Ở một trường hợp khác Ðức Phật còn dạy thêm:
"Có hai pháp, này chư tỳ khưu, cùng góp phần
phát triển trí tuệ (vijjà-bhàgiya): vắng lặng và
minh sát. Khi trạng thái vắng lặng được phát
triển, tâm cũng phát triển; tâm phát triển tiêu
trừ ái dục. Khi minh sát được phát triển, trí
tuệ cũng phát triển; tuệ minh sát tiêu trừ vô
minh. Một cái tâm mà bị ái dục làm ô nhiễm ắt
không giải thoát được. Khi bị vô minh che lấp,
ắt trí tuệ không phát triển."
Do đó, tâm được giải thoát (ceto vimutti) nhờ
rửa sạch ái dục. Giải thoát bằng trí tuệ
(pannà-vimutti) là nhờ rửa sạnh vô minh.
Theo những lời dạy trên đây của Ðức Phật, rõ
ràng vắng lặng và minh sát, hay nói cách khác,
chánh định và chánh kiến của Con Ðường không thể
tách rời nhau. Cả hai cùng hỗ trợ lẫn nhau. Nếu
không có tâm định ở một mức độ nào, ắt không thể
phát triển tuệ minh sát. Và nếu không có tuệ minh
sát ở một mức độ nào, ắt không thể phát triển tâm
định vắng lặng. Cả hai không thể lìa nhau; điều
này được Ðức Phật giải thích như sau:
"Người thiếu trí tuệ không định tâm,
Người thiếu tâm định không có trí tuệ;
Người được cả hai, định và tuệ,
Người ấy quả thật đã ở cạnh Niết Bàn."
Tự
Hiểu Biết Mình
Vị hành giả đã an trụ vững chắc tâm định bằng
pháp niệm hơi thở, giờ đây hướng tâm về thiền minh
sát (vipassanà bhàvanà). Nơi đây vipassanà, hay
minh sát, có nghĩa là sáng suốt hiểu biết tận
tường sự vật đúng như thật sự sự vật là vậy, là
thấu triệt thực tướng của sự vật, tức thấy rõ bản
chất vô thường, khổ, vô ngã của ngũ uẩn. Theo ngôn
ngữ thông thường, đó là hiểu biết chính mình.
Chúng ta không thể tự hiểu biết mình một cách dễ
dàng bởi vì những khái niệm sai lầm, những ảo
tưởng vô căn cứ, những thành kiến lầm lạc và những
ảo giác mê hoặc của chúng ta đã dẫn dắt chúng ta
lầm đường lạc nẻo. Do công phu hành thiền minh sát
ta cố gắng tiêu trừ ảo tưởng (màyà), những khái
niệm (pannati) và những ảo giác mê hoặc
(vipallàsa) và thấy đúng thực tướng của chính
mình.
Khi đã tiến bộ khá nhiều trong pháp niệm hơi
thở, tâm trở nên vắng lặng nhờ đã chế ngự năm pháp
triền cái, hành giả có thể nhận thấy bản chất vô
thường của chính hơi thở mình; sự phát sanh và
chấm dứt của luồng hơi thở cũng giống như các lượn
sóng trên mặt biển, phát sanh, nhô lên, rồi tràn
xuống và tan biến. Bây giờ, nương theo hơi thở vô
thường, hành giả cố gắng nhận chân bản chất vô
thường của ngũ uẩn. Sự phân tách cái được gọi là
chúng sanh ra làm năm uẩn luôn luôn biến đổi cho
thấy rõ ràng rằng không có gì nằm trong đó, không
có gì được vĩnh viển tồn trử bên trong cái được
gọi là chúng sanh ấy -- tiến trình danh và sắc ấy.
Cũng nên nhớ nằm lòng liên hệ mật thiết giữa các
chi niệm (sati), trạch pháp (dhamma-vicaya), tấn
(viriya) v.v... của thất giác chi đã được đề cập
đến trong phần niệm pháp (dhammànupassanà). Với
tâm giác tỉnh chú niệm hành giả trạch pháp, tức
quan sát, phân tách các pháp. Nơi đây danh từ
"dhamma", "pháp", có nghĩa là danh và sắc, hai
phần tâm linh và thể xác của con người. Muốn hoàn
mãn trạch pháp, hành giả cần phải quyết tâm thực
hành tứ chánh cần để nhận thức rõ ràng sinh hoạt
của những tâm sở, hầu khắc phục những tư tưởng bất
thiện và bảo tồn những tư tưởng thiện. Khi hành
giả kiên trì tận lực phân tách danh và sắc của
mình như thế ấy và thấy được những gì mà mắt
thường không thể thấy, tức thấy đúng theo tuệ minh
sát chừng ấy ắt có phát sanh tâm phỉ lạc thuần túy
(àraddha viriyassa uppajjati pìti niràmisa).
Biến đổi, hay vô thường (anicca), là đặc tánh
chánh yếu của các hiện tượng sinh tồn. Chúng ta
không thể nói đến vật gì, dầu vô tri vô giác hay
hữu giác hữu tri rằng, "cái nầy tồn tại", bởi vì
trong thời gian mà ta thốt ra lời nói trên thì nó
đã đổi thay, thành cái gì khác. Ngũ uẩn là cái gì
được kết hợp lại và phát sanh do điều kiện và vì
thế, ngũ uẩn luôn luôn bị định luật nhân và quả
chi phối. Thức, hay tâm và các yếu tố thành phần
của nó (tâm sở), không ngừng biến chuyển. Mặc dầu
ở một tốc độ thấp hơn, cơ thể vật chất cũng dường
thế ấy, luôn luôn thay mới, biến đổi trong từng
khoảnh khắc.
"Người thấy rõ ràng các uẩn vô
thường là vô thường, là có chánh kiến."
Ðức Phật nêu ra năm hình ảnh cụ thể để chỉ dạy
bản chất vô thường của ngũ uẩn. Ngài ví sắc như
một khối bọt, thọ như bong bóng nước, tuởng như ảo
cảnh, hành như lục bình (một loại cây mềm, trống
ruột), và thức như ảo tưởng:
"Này chư tỳ khưu, có chăng một bản thể đơn
thuần vững bền, trong khối bọt, trong bong bóng
nước, ảo cảnh, loại cây trống ruột, hay ảo
tưởng?"
Và Ngài dạy tiếp:
"Bất luận hình thể vật chất nào trong quá
khứ, vị lai, hay hiện tại, ở trong hay ở ngoài,
thô kịch hay vi tế, thấp hay cao, xa hay gần,
hành giả nhìn, suy niệm, quan sát hình thể vật
chất ấy với sự chú tâm chân chánh (yoniso
manasikàra, sự chú ý sáng suốt có hệ thống).
Nhìn như thế ấy, suy niệm và quan sát với sự chú
tâm chân chánh, hành giả sẽ thấy nó rỗng không,
không có thực chất, không có bản thể. Này chư tỳ
khưu, có chăng một bản thể đơn thuần trong sắc?".
Cùng thế ấy Ðức Phật giảng giải bốn uẩn còn lại
và hỏi:
"Này chư tỳ khưu, có chăng một bản thể đơn
thuần vững bền trong thọ, tưởng, hành, thức?"
Như vậy ta thấy rằng do công phu trạch pháp ngũ
uẩn, sẽ phát sanh đến hành giả một mức độ tư tưởng
khá tiến bộ. Chính đến giai đoạn này sự hiểu biết
chân chánh, chánh kiến, tuệ minh sát (vipassanà)
bắt đầu tác động. Và chính nhờ tuệ minh sát này mà
hành giả nhận thức tận tường bản chất thật sự của
ngũ uẩn, và thấy ngũ uẩn dưới ánh sáng của ba đặc
tướng (ti-lakkhana): vô thường, khổ, vô ngã. Ðức
Bổn Sư giải thích như sau:
"Này chư tỳ khưu, ngũ uẩn là vô thường
(anicca); bất luận cái chi là vô thường, đó là
khổ (dukkha, bất toại nguyện); đó là vô ngã
(anattà), không phải là của ta, không phải là
ta, không phải là bản ngã của ta, Vậy, phải thấy
nó bằng trí tuệ tuyệt hảo (sammap-pannàya) đúng
như thật sự nó là vậy. Người mà thấy thực tướng
của nó bằng trí tuệ tuyệt hảo, tâm người ấy
không cố bám vào, mà xa lìa phiền não, người ấy
giải thoát."
Không phải chỉ có ngũ uẩn là vô thường, khổ và
vô ngã mà những nhân và duyên tạo điều kiện cho
ngũ uẩn phát sanh cũng là vô thường, khổ và vô
ngã. Ðức Phật chỉ dạy rành mạch điều này:
"Này chư tỳ khưu, sắc, thọ, tưởng, hành,
thức là vô thường; bất luận những gì là nhân và
duyên tạo điều kiện cho ngũ uẩn phát sanh cũng
là vô thường. Làm thế nào mà ngũ uẩn, phát sanh
từ những nhân và duyên vô thường, lại có thể
thường còn?" "Cái gì là vô thường ắt không đáng
cho ta thỏa thích trong đó, không đáng cho ta
chấp nhận, chấp thủ vào ..."
Chúng ta chỉ thật sự sống trong mỗi khoảnh
khắc, và khoảnh khắc kế tiếp sau đó là một kiếp
sống khác. Như vậy, hiểu theo ý nghĩa cùng tột,
kiếp sống của chúng ta chỉ tồn tại trong một
khoảnh khắc. Ðôi khi ta nói cuộc sống bay qua như
chớp nhoáng. Sống rồi chết trong mỗi khoảnh khắc.
Hôm nay là ngày mai của ta trong ngày hôm qua. Tâm
của người hành thiền không còn dính mắc trong quá
khứ hay vị lai, sẽ có thể sống sáng suốt và hữu lý
trong thế gian.
Ðiều chánh yếu trong thiền minh sát nằm trong
sự chứng nghiệm, chớ không phải trong những buổi
thuyết Pháp và trong kinh sách giảng về pháp hành
thiền, mặc dầu nghe giảng Pháp và đọc kinh sách về
thiền tập vẫn có lợi ích. Không nên vọng móng
duyên theo, hay cố bám vào mục đích hay thành quả
nào trong khi hành thiền. Ðây là pháp hành trong
đó không có bất luận sự cố chấp vào bất cứ gì, vật
chất, tinh thần hay đạo đức; bởi vì tất cả mọi sự
vật đều không bền vững. Khi ta vừa bám vào thì nó
đã không còn nữa. Hãy luôn luôn giác tỉnh và chú
niệm. Kinh Niệm Xứ luôn luôn nhắc đi và lặp lại
câu:
"Vị ấy sống độc lập và không bám níu
vào bất luận gì trong thế gian" (anissito ca
viharati na ca kinci loke upàdiyati). Ðó là
thành quả mà người hành thiền đạt đến.
Loại Trừ Mê Hoặc
Khi còn chưa thấy được thực chất của sự vật thì
quan kiến của chúng ta luôn luôn bị che lấp trong
đám mây mờ mê hoặc. Bởi những ưa thích và ghét bỏ
của mình, chúng ta không thấy rõ giác quan (căn)
và những đối tượng của nó (trần) một cách khách
quan trong bối cảnh thật sự của nó, rồi chạy theo
rượt bắt những ảo cảnh, ảo tưởng, ảo giác và những
gì giả tạo phỉnh lừa ta. Giác quan của chúng ta bị
lầm lạc và dẫn dắt chúng ta đi lầm đường lạc nẻo.
Chúng ta không thấy sự vật trong ánh sáng của thực
tế, vì lẽ ấy phương cách mà chúng ta nhìn sự vật
bị sai lạc.
Tâm mê hoặc lầm tưởng cái không thật là thật,
thấy cái bóng bay qua ngỡ đó là cái gì có thực
chất và trường tồn vĩnh cửu, và kết quả là tâm
thần bấn loạn mù mờ, xung đột, bất điều hòa, và
triền miên đau khổ. Người sống trong tình trạng mê
hoặc ắt nhận thức, suy tư và hiểu biết sai lầm.
Người ấy thấy trường tồn vĩnh cửu trong những sự
vật vô thường tạm bợ, thấy hạnh phúc trong đau
khổ, thấy một bản ngã trong cái vô ngã, thấy đẹp
đẽ trong cái đúng ra phải dứt bỏ, khước từ. Người
ấy cũng suy tư và hiểu biết lầm lạc như thế ấy.
Như vậy, mỗi mê hoặc tác động theo bốn đường lối
và dẫn dắt con người đi sai lạc, che lấp quan
kiến, và gây hoang mang. Chính giác quan của con
người làm cho con người sai lầm mê hoặc. Ðó là do
sự chú tâm không thích nghi (ayoniso-manasikàra,
sự chú ý kém sáng suốt, không có quy củ), suy tư
không sáng suốt. Người mà không thấy rõ bản chất
thật sự của thế gian này, không thấy đường lối và
khuynh hướng của nó và hậu quả đương nhiên phải có
của hành động và người mà không thể thấy rằng kiếp
sống này quả thật không vĩnh cửu trường tồn trong
đó không có chân hạnh phúc, rồi luyến ái, đeo níu,
dính mắc vào thế gian, người ấy rõ thật chưa
trưởng thành. Người ấy phải thuần thục trong chánh
kiến trước khi thông điệp của
Giáo Pháp
(Buddhadhamma) có thể thấm nhuần họ. Ðám mây
mờ tham ái, ngã mạn và si mê đang bao phủ kín mít
người ấy thật là dầy đặc và kiên cố. Mối hiểm họa
vô cùng rùng rợn của đời sống, nằm trong sự hiểu
biết đời sống; bởi vì tất cả mọi sự vật ở đây, tất
cả những gì liên quan đến thế gian, đều biến đổi;
không có trường hợp ngoại lệ, ta không thể nương
cậy vào bất luận gì.
Chỉ có chánh kiến, hay tuệ minh sát, mới loại
trừ những mê hoặc ấy và giúp con người nhận chân
bản chất thật sự của cuộc sống, nằm phía dưới lớp
mặt bên ngoài. Ðến lúc vượt ra khỏi đám mây mờ mê
hoặc và lầm lạc, con người mới có thể chói ngời,
rực rỡ sáng lạng với trí tuệ thật sự, như vầng
trăng rằm vượt qua khỏi đám mây đen kịch che án.
Khi thảo luận về tam học: giới, định, tuệ, tức
ba pháp tu học dẫn đến giải thoát cuối cùng và
hoàn toàn thanh tịnh, ta cũng nên hiểu biết những
bợn nhơ tinh thần, hay các khuynh hướng bất thiện
ngủ ngầm bên trong con người tác động như thế nào.
Khi những ô nhiễm và khuynh hướng ngủ ngầm nằm
im lìm sâu kín trong tâm của con người thì được
gọi là anusaya. Nó ngủ ngầm ngày nào mà không có
gì khơi động. Năm giác quan cùng với ý là sáu, lục
căn, cung cấp thức ăn để khơi động các pháp bất
thiện ngủ ngầm dưới hình thức sắc, thinh, hương,
vị, xúc, pháp. Sáu loại thực phẩm này có thể ngọt
bùi, cũng có thể cay đắng. Dầu cay đắng hay ngọt
bùi, sáu đối tượng của giác quan này tác động như
những kích thích, và liền sau đó những khuynh
hướng hay ô nhiễm ngủ ngầm, được khích động, phát
sanh và trồi lên mặt. Sự trổi dậy của các khuynh
hướng ngủ ngầm này được gọi là pariyutthàna hay
samudàgata. Một khi được khơi động và trổi dậy,
các khuynh hướng ngủ ngầm này tìm một lối thoát để
vượt đi. Nếu con người không thể vận dụng sự chú
tâm chân chánh và có hệ thống (yoniso-manasikàra)
để làm lắng dịu những khuynh hướng vừa trổi lên
thì nó thoát ra bằng cửa miệng hay cửa hành động,
khẩu hay thân, hoặc cả hai cùng một lúc, và điều
này được gọi là vìtikkama, vượt quá mức, hay vượt
qua khỏi.
Trong ba giai đoạn phát triển của khuynh hướng
ngủ ngầm, giai đoạn thứ ba, "vượt quá mức" là thô
kịch, giai đoạn thứ nhì, "trổi dậy" là vi tế, và
giai đoạn đầu tiên, "ngủ ngầm", càng vi tế hơn. Ba
loại khí giới để khắc phục nó và giải phóng tâm ra
khỏi kềm kẹp của nó là: giới, định và tuệ.
Do giới, sìla, mọi hành động bất thiện bằng
thân và khẩu đều được kiểm soát và loại trừ. Ðúng
rằng trong pháp học để rèn luyện thân và khẩu,
phần nào cũng cần phải có kỷ luật tinh thần, mặc
dầu không nhất thiết phải kiên trì hành thiền.
Nhờ giới đức trong sạch con người có thể trở
nên vắng lặng và bình tĩnh trong thân và khẩu,
nhưng ở tâm thì không. Người ấy còn thiếu tâm định
(samàdhi). Mặc dầu có chiều hướng giúp cho tâm trở
nên vắng lặng, giới đức không thể kiểm soát tâm.
Tâm định an trụ, với sự chú tâm sáng suốt và chân
chánh, chế ngự loại khuynh hướng bất thiện thứ nhì
(trổi dậy), và ngăn ngừa không để cho nó thoát ra.
Tuy nhiên, tâm định không thể tận diệt các khuynh
hướng ngủ ngầm Chính nhờ trí tuệ, tức tuệ minh
sát, vipassanà, tất cả mầm móng, tất cả khuynh
hướng bất thiện ngủ ngầm được diệt trừ tận gốc rễ.
Và từ đó hành giả không còn bị những sự vật phù du
tạm bợ làm hoang mang, bấn loạn tinh thần hay lầm
đường lạc bước, không còn bị thế gian hiện tượng
bao phủ tâm trí như đám mây mờ dầy đặc; bởi vì
hành giả đã vượt lên khỏi mọi khả năng của sự lầm
lạc, không còn có thể sai lầm, đã trở nên tuyệt
đối vô nhiễm, tình trạng mà chỉ có tuệ minh sát
mới có thể đem lại. Và đây là giải thoát
(vimutti), bước ra ngoài (nissarana) vòng luân hồi
(samsàra) lẩn quẩn sanh tử triền miên. Giờ đây ta
hãy tự nhắc lại tuyên ngôn của Ðức Thế Tôn trong
phần mở đầu kinh Niệm Xứ, Satipattthàna Sutta:
"Pháp Niệm Xứ là con đường duy nhất để chúng
sanh tự thanh lọc, nhằm vượt qua khỏi phiền não
và ta thán, diệt trừ đau khổ và ưu phiền, đạt
đến chánh đạo và chứng ngộ Niết Bàn."
Tóm Lược
Như đã thảo luận ở phần trên, khởi điểm trong
hệ thống quản trị và giáo huấn của Ðức Phật
(Buddha-sàsana) là giới, hay tác phong đạo đức.
Ðứng vững hai chân trên nền tảng giới đức, hành
giả phải cố gắng thuần hóa, khép cái tâm chao động
vào khuôn khổ kỹ cương. Ðức Phật chỉ dạy hàng môn
đệ những đường lối và phương tiện để chế ngự khẩu
nghiệp và thân nghiệp bất thiện. Ðã thuần hóa lời
nói, kiểm soát hành động và nuôi mạng trong sạch
bằng cách hành nghề sinh sống chân chánh, hành giả
vững vàng thiết lập cho mình một nếp sống đạo đức
thanh cao. Trong khi luyện tập tự chế thân và
khẩu, hành giả cũng nên canh phòng những cánh cửa
của giác quan -- thu thúc lục căn -- bởi vì nếu lơ
đểnh lãng quên canh phòng sáu cửa giác quan, các
tư tuởng bất thiện sẽ từ từ lẫn chen vào, lấn át
dần dần và xâm chiếm tâm. Hành giả cố gắng giữ tâm
quân bình bằng cách đẩy lui những ưa thích và ghét
bỏ, và kiên trì thu thúc lục căn, ăn uống độ lượng
và luôn luôn giác tỉnh, không ngừng chú niệm.
Bây giờ, nếu kiên trì chuyên cần và giác tỉnh
chú niệm, hành giả sẽ tiến bộ vững chắc và bắt đầu
công phu khó khăn hơn, là hành thiền. Hành giả
chọn một đề mục hành thiền thích hợp với tâm tánh
mình và liên tục thực hành, không để gián đoạn.
Chuyên cần làm như vậy, một ngày nọ hành giả sẽ
chế ngự mọi chướng ngại tinh thần, hoàn toàn kiểm
soát cái tâm chao động của mình và thành đạt tâm
định vắng lặng. Với thân khẩu thanh tịnh, lục căn
thu thúc và tâm thuần hóa, hành giả hoàn toàn làm
chủ lấy mình.
Khi đã hoàn bị trong pháp tu tập về giới và
định (sìla-sikkhà và samàdhi-sikkhà), hành giả tận
lực thành tựu trí tuệ thật sự, tuệ minh sát, bằng
cách thấy tất cả mọi sự vật đúng theo thực tướng
của nó (yathàbhùtam). Thấy đúng thực tướng của vạn
pháp, như đã thảo luận ở phần trên, là thấy bản
chất vô thường, khổ, vô ngã, của tất cả các pháp
hữu vi. Ðối với vị đệ tử của Ðức Phật mà chuyên
cần hành thiền như vậy "thế gian" không phải là
cái thế gian bên ngoài, hay là thế gian mà ta được
biết xuyên qua kinh nghiệm, mà chính là thân và
tâm của con người -- thế gian ngũ uẩn thủ. Chính
cái thế gian mà hành giả cố gắng thấu triệt là vô
thường, khổ và vô ngã. Và cũng chính cái thế gian
sắc và danh ấy mà Ðức Phật hàm ý khi Ngài dạy
Mogharàja:
"Này Mogharàja, hãy luôn luôn giác tỉnh
chú niệm, nhận thức rằng thế gian là hư không
(sunna) -- từ bỏ ý niệm về một bản ngã thường
còn -- nhờ đó mà có thể khắc phục Ma Vương
(Màra, cái chết).
Phương pháp hành thiền minh sát bao hàm việc
thành tựu tri kiến bằng cách quán chiếu trực tiếp.
Và công phu trực tiếp quán chiếu đưa đến tự nương
tựa nơi chính mình và tâm quân bình vững chắc. Tri
kiến này vượt ra ngoài phạm vi trí thức, thoát ra
ngoài mọi luận lý hay mọi diễn dịch có tánh cách
khái niệm, hướng đến tình trạng thật sự chứng
nghiệm đời sống và những gì liên quan đến cuộc
sống.
Hoàn toàn thấu triệt thực tướng của vạn pháp
như vậy, hoàn toàn nhận thức bản chất thật sự của
ngũ uẩn thủ như vậy và bằng cách gội rửa mọi bợn
nhơ tinh thần, hành giả "sống độc lập, không cố
bám vào bất luận gì trên thế gian."
Người đọc sẽ ghi nhận rằng trong công trình tự
thanh lọc thân tâm và tự làm chủ lấy mình, nhằm
thành đạt giải thoát cuối cùng, như đã được trình
bày, không có sự áp chế hay cưỡng bách từ bên
ngoài, không có ban thưởng và hành phạt cho những
hành động đã làm hoặc thiếu sót bỏ qua không làm.
Tình trạng giải thoát ra khỏi mọi bợn nhơ tinh
thần tuyệt đối và trọn vẹn nằm trong tay chính ta,
không do ai khác -- dầu người hay thần linh. Cánh
cửa đưa đến giải thoát rộng mở, không có song sắt,
song hồng hay chốt, khóa, trừ phi chính con người
tự tạo ra những chốt, những khóa, những song hồng
hay những song sắt ấy. Dầu một vị Phật chí tôn chí
thánh cũng không thể tháo gỡ cho con người những
thằng thúc của vòng luân hồi, mà chỉ có thể dạy
bảo, rọi sáng con đường. Con đường là: giới, định,
tuệ.
Tất cả những vấn đề của kiếp nhân sinh có thể
rút keo gọn lại thành một vấn đề duy nhất là vấn
đề dukkha, đau khổ hay bất toại nguyện. Và giải
pháp cho vấn đề mà từ nghìn xưa chư Phật -- những
bậc Toàn Giác, những đấng Chánh Biến Tri trong tam
thế -- đã giáo truyền là Bát Chánh Ðạo. Công hiệu
của con đường này nằm trong công trình thực hành
con đường. Con đường hành thiền của Ðức Phật, tức
Bát Chánh Ðạo, vẫn còn vẩy tay kêu khách hành
hương mệt mỏi hãy lần bước đến trạng thái châu
toàn và thanh bình an lạc của Niết Bàn. "Cuộc hành
trình xa xôi ngàn dậm cũng chỉ bắt đầu bằng một
bước đi", và như lời người xưa, "vài người nhanh
chân rảo bước, vài người chẩm rải đưa chân, vài
người khác nữa bò lết một cách đau khổ, nhưng tất
cả những ai tiếp tục tiến hành sẽ đến mục tiêu."
(xin xem tiếp phần 10.c - Các
Phụ Bản)
[1] Xem Phụ bản V, câu chuyện lý thú về một
người hành thiền.
[2] Xem kinh Jàgara Sutta, Devatà Samyutta, I.
6.
[3] Dhammapada, Kinh Pháp Cú, câu 226.
[4] Samyutta Nikàya, Tạp A Hàm, v, 115.
[5] Satipatthàna Commentary, Bản Chú Giải Kinh
Niệm Xứ.
[6] Anguttara Nikàya, Tăng Nhứt A Hàm, i, 3.
[7] Xem Phụ bản VI, Loại Trừ Những Tư Tưởng Bất
Thiện.
[8] Samyutta Nikàya, Tạp A Hàm, v, 170
[9] Trích từ tập The Centuries Poetry, quyển 2,
trang 153-155.
[10] Samyutta Nikàya, Tạp A Hàm, i, 4.
[11] Xem Phụ bản IV, Pháp Triền Cái.
[12] Thằng thúc (kiết sử) có nghĩa là dây trói
buộc. ở đây là những dây trói buộc cột chắc chúng
sanh vào vòng luân hồi. Có 10 thằng thúc:
1. tham dục,
2. ác ý,
3. ngã mạn,
4. tà kiến,
5. hoài nghi,
6. ái dục bám níu đời sống.
7. giới cấm thủ, dể duôi tin theo những nghi
thức lễ bái, sai lầm nghĩ rằng các nghi thức
cúng tế thần linh có thể đưa đến giải thoát.
8. ganh tỵ,
9. bỏn xẻn, và
10. vô minh.
Các thằng thúc này phát sanh tùy thuộc nơi
những căn và những trần liên hệ, như nhãn và sắc,
nhĩ và thinh v.v... Bản Chú Giải có giải thích rõ
ràng các thằng thúc ấy phát sanh như thế nào. Xin
đọc quyển The Way of Mindfulness (Kandy: BPS),
trang 132.
[13] 1. Niệm, 2. trạch pháp, 3. tấn, 4. phỉ, 5.
an 6. định, 7. xả. Xin đọc chương "Thất Giác Chi"
trong sách này.
[14]
Sabbe dhammà nàlam abhinivesayati,
Majjhima Nikàya, Trung A Hàm, i,251.
[15] Samyutta Nikàya, Tạp A Hàm, i, 39.
[16] Majjhima Nikàya, Trung A Hàm, 22.
[17] Xem Phụ bản IV, Pháp Triền Cái.
[18] Samyutta Nikàya, Tạp A Hàm, ii, 13.
[19] Anguttara Nikàya, Tăng Nhứt A Hàm, i, 100.
[20] Anguttara Nikàya, Tăng Nhứt A Hàm, i, 61.
[21] Dhammapada, Kinh Pháp Cú, câu 372.
[22] Xem Phụ bản III, Chánh Tinh Tấn.
[23] Majjhima Nikàya, Trung A Hàm, 118/III. 85.
[24] Samyutta Nikàya, Tạp A Hàm, iii, 51.
[25] Samyutta Nikàya, Tạp A Hàm, iii, 44.
[26] Samyutta Nikàya, Tạp A Hàm, iii, 23
[27] Majjhima Nikàya, Trung A Hàm 106/II. 263.
[28] Anguttara Nikàya, Tăng Nhứt A Hàm ii,
Catukka Nipàta 49; Anguttara Nikàya, Part I, do
Ðại Ðức Nyanaponika dịch (Kandy: BPS) Wheel
155/158, trang 86.
[29] Có bảy khuynh hướng ngủ ngầm: 1) tham dục,
2) ác ý, 3) tà kiến, 4) hoài nghi, 5) ngã mạn, 6)
luyến ái vào kiếp sinh tồn, 7) vô minh
(kàma-raga, patigha, ditthi, vicikicchà, màna,
bhava-ràga, avijjà) -- Dìgha Nikàya, Trường
A Hàm, iii, 254; Anguttara Nikàya, Tăng Nhứt A Hàm
vii, 11.12.
THIỀN
TẬP TRONG PHẬT GIÁO
PHỤ BẢN I
Tôi
Nghe Như Vầy
Lúc bấy giờ một vị tỳ khưu đến hầu Phật, đảnh
lễ Ngài và ngồi lại một bên. Khi đảnh lễ xong vị
tỳ khưu bạch:
"Bạch Ðức Thế Tôn, người ta nói, 'Sống đúng
theo Giáo Pháp (dhamma-vihàri). Bạch Ðức Thế Tôn,
một vị tỳ khưu sống như thế nào là đúng theo Giáo
Pháp?"
1) "Nơi đây, này tỳ khưu, một vị tỳ khưu thông
suốt thấu đáo Giáo Pháp và suốt ngày sống với sự
hiểu biết thấu đáo ấy, không tìm nơi vắng vẻ,
không hành thiền. Vị tỳ khưu ấy được gọi là người
sống thiên về pháp học, vị ấy không sống đúng theo
Giáo Pháp.
2) "Lại nữa, này tỳ khưu, một vị tỳ khưu dạy
người khác Giáo Pháp, cặn kẻ, với đầy đủ chi tiết
như mình đã được nghe, như mình đã thông suốt thấu
đáo; vị ấy suốt ngày cố thuyết phục, làm cho người
khác hiểu Giáo Pháp, không tìm nơi vắng vẻ, không
hành thiền. Vị tỳ khưu ấy được gọi là người cố
giáo huấn người khác, nhưng không sống đúng theo
Giáo Pháp.
3) "Lại nữa, này tỳ khưu, một vị tỳ khưu lặp đi
lặp lại Giáo Pháp, cặn kẻ, với đầy đủ chi tiết như
mình đã được nghe, như mình đã thông hiểu thấu
đáo; vị ấy suốt ngày lặp đi lặp lại, không tìm nơi
vắng vẻ, không hành thiền. Vị tỳ khưu ấy được gọi
là người cố lặp đi lặp lại, nhưng không sống đúng
theo Giáo Pháp.
4) "Lại nữa, này tỳ khưu, một vị tỳ khưu hướng
tâm về Giáo Pháp, suy tư, nghiền ngẩm lời dạy như
đã được nghe, như đã thông suốt thấu đáo; vị ấy
suốt ngày suy gẫm về Giáo Pháp, không tìm nơi vắng
vẻ, không hành thiền. Vị ấy được gọi là suốt ngày
nghiền ngẩm Giáo Pháp, nhưng không sống đúng theo
Giáo Pháp.
5) "Tuy nhiên, này tỳ khưu, một vị tỳ khưu
thông suốt thấu đáo Giáo Pháp, không dành hết thì
giờ sống với sự thông suốt ấy mà tìm nơi vắng vẻ
và hành thiền. Quả thật vậy, này tỳ khưu, vị ấy
quả thật sống đúng theo Giáo Pháp.
"Này tỳ khưu, quả thật vậy, Như Lai tuyên ngôn:
người cố gắng học, người cố gắng dạy, người cố
gắng lặp đi lặp lại, người nghiền ngẩm suy tư và
người sống đúng theo Giáo Pháp.
"Những gì mà, do tâm từ tâm bi, một vị thầy nên
dạy môn đệ mình, Như Lai đã dạy các con. Ðây là
những gốc cây, những nơi hoang vắng yên tĩnh; hãy
hành thiền, này tỳ khưu, không nên dể duôi buông
lung, không nên để về sau phải hối tiếc. Ðó là lời
mà Như Lai kêu gọi các con."
-- (Anguttara Nikàya, Pancaka
Nipàta 73)
PHỤ BẢN II
Nếp
Sống Phạm Hạnh (Brahma-vihàra)
Brahma-vihàra,
tứ vô lượng tâm, là một đề mục hành thiền khác mà
bất cứ ai cũng có thể thực hành và gặt hái lợi
ích. Danh từ
"brahma" có thể được dịch là
tuyệt diệu, cao cả, thù thắng, hay cao quý, và
"vihàra" là nếp sống. Như vậy, Brahma-vihàra
là nếp sống cao thượng, cũng được gọi là tứ phạm
trú, hay bốn nơi trú ẩn của bậc phạm hạnh, hay của
chư Phạm Thiên. Cũng có thể xem là "nghệ thuật
sống cao cả", "lối sống cao siêu nhất" (trong thế
gian).
Có bốn loại tâm như vậy là:
Từ, hay tình thương bao quát đồng đều (mettà)
Bi, lòng trắc ẩn thương hại (karunà)
Hỷ, lòng hoan hỷ có tánh cách vị tha (mudità)
Xả, tâm quân bình (upekkhà).
Ðó là bốn phẩm hạnh dẫn đến lối sống cao
thượng. Bốn đức độ này loại trừ tánh ích kỷ và
trạng thái bất hoà và đồng thời tạo nên đức vị
tha, trạng thái hòa hợp và tình huynh đệ. Cũng
được xem là bốn trạng thái tâm vô lượng vô biên
(appamannàyo), tứ vô lượng tâm, bởi vì đây là bốn
đức tánh cao thượng được rộng mở bao trùm tất cả
chúng sanh, không trừ bỏ chúng sanh nào, bất luận
nòi giống, chủng tộc, giai cấp, màu da, tín
ngưỡng, Ðông hay Tây. Subha-vimokkha là một danh
từ khác để mô tả bốn loại tâm cao thượng này.
Vimokkha là giải thoát, làm cho được tự do, subha
là tốt đẹp. Ðây là giải thoát tâm (vimokkha) mình
bằng cách nhìn những gì tốt đẹp nơi người khác.
Thay vì nhìn vào và chỉ thấy cái xấu cái hư, hành
giả nhìn phần tốt đẹp của người, để trau giồi và
phát triển bốn trạng thái tâm cao thượng: từ, bi,
hỷ, xả.
Sâu ẩn ngủ ngầm bên trong mọi người có những
tánh hư tật xấu đủ loại, những điều hư xấu ấy tự
nhiên bộc lộ thành những tư tưởng xấu xa bất
thiện, khởi sanh đến con người. Tuy nhiên, nên ghi
nhận rằng tất cả, và mỗi tật xấu đều có một đức
tánh đối nghịch; vậy, có thể phát triển một đức
tánh để khắc phục và loại trừ một ô nhiễm.
Trong khi phát triển tâm vô lượng (từ, bi, hỷ,
hay xả) ta không loại bỏ bất luận chúng sanh nào.
Những đức tánh này không có sự phân biệt nào giữa
người và người, xem người này là thấp, người kia
là cao hơn, giàu hay nghèo hơn, mạnh hay yếu hơn,
thông minh sáng suốt hơn hay tối tăm ngu muội, ở
giai cấp bà la môn hay candàla (chăn đà la) hoặc
theo Thiên Chúa Giáo, Ấn Ðộ Giáo, Do Thái Giáo,
Hồi Giáo hay Phật Giáo v.v... vì như đã thấy ở
phần trên, những tâm cao thượng tuyệt hảo này là
vô lượng vô biên, và không quá trể hơn khi, dựa
trên những nguyên tắc sai lầm, ta cố gắng phân
chia con người ra từng nhóm, thì ngay lúc ấy ý
niệm chia rẽ lẫn chen vào, những đức độ vô lượng
sẽ có giới hạn, vô biên trở thành có biên giới.
Như vậy là trái nghịch với lý tưởng cao cả của bốn
loại tâm thù thắng cao siêu này. Brahma-vihàra, tứ
vô lượng tâm, cũng có thể được áp dụng như một đề
mục hành thiền gọi là "brahma-vihàra bhàvanà",
công phu trau giồi những trạng thái tâm cao siêu
bằng pháp hành thiền. Qua pháp hành nhằm phát
triển những đức hạnh tích cực này, hành giả có thể
lắng tâm an trụ và thanh lọc, làm cho tâm trong
sạch.
Khi niệm tứ vô lượng tâm, hành giả thấy dễ dàng
hơn nếu bắt đầu bằng chính mình. Thí dụ như bắt
đầu niệm: "ùớc mong tôi được an vui hạnh phúc,
không bịnh hoạn, không phiền lụy, v.v..." Rồi nghĩ
đến thầy tổ, bạn bè, những người mà đối với họ
mình không thương cũng không ghét và sau cùng, đến
những người xem là thù nghịch (nếu có, nhưng không
nên tạo ra trong tâm một người thù), và rải đến họ
những tư tưởng từ ái. Có thể hình như rất khó rải
tâm từ đến người mà mình xem là thù nghịch, nhưng
chính việc khó làm ấy sẽ phá vỡ hàng rào ngăn
cách. Tâm từ phải được rải khắp đồng đều mà không
có sự hạn định chăm chế hòa giải nào.
Ta có thể hỏi tại sao rải tâm từ đến mình
trước. Có phải là ích kỷ không? Thoáng nghe qua
hình như đúng vậy, nhưng ta sẽ thấy rằng làm như
thế ta sẽ rải tâm từ đến người khác dễ dàng hơn.
"Tôi thích được an vui hạnh phúc. Vậy, ước mong
rằng chúng sanh khác cũng được an vui, hạnh phúc".
"Tôi như thế nào, người khác cũng được như thế ấy,
người khác như thế nào tôi cũng được như thế ấy",
và chúng ta trau giồi tâm từ đối với tất cả.
Câu 130 của kinh Dhammapada (Pháp Cú ) dạy:
"Ai cũng run rợ trước hình phạt,
Tất cả đều quý trọng đời sống.
Hãy lấy bụng ta so lòng người,
Không nên giết chóc,
Cũng không nên làm cho ai giết."
I. Tâm Từ (Mettà)
Mettà (Skt. maitri) là lòng ước muốn rằng tất
cả chúng sanh, không có bất luận hạn định nào, đều
được an vui hạnh phúc. Tâm từ (mettà) là đặc tánh
của người bạn lành. Kẻ thù trực tiếp của tâm từ là
tánh hung dữ, lòng sân hận, còn người thù mang lốt
bạn của tâm từ là tình thương thiên về xác thịt,
sự thương yêu trìu mến có tánh cách tham dục hay
lòng luyến ái vị kỷ (pema), những trạng thái tâm
khác hẳn với tâm từ. Tình thương thiên về xác
thịt, khi sâu ẩn lẫn núp dưới lốt tâm từ, có thể
gây nhiều tai hại cho mình cũng như cho người
khác. Ta phải cẩn mật canh phòng kẻ thù mang lốt
bạn này, tức lòng tham ái muốn chiếm làm sở hữu
của mình. Nếu tình thương là hậu quả trực tiếp của
lòng ham muốn, bám níu và cố giữ cho mình thì thật
sự là không phải tâm từ.
Có lòng thương một người hàm ý là đem lòng
luyến ái, bám níu vào người mình thương, và nếu
người kia cũng thương yêu mình như thế ấy, ắt có
sự trói buộc giữa hai người, nhưng khi phải xa lìa
nhau hoặc khi tình thương phai lạt thì ta trở nên
đau khổ và có thể hành động điên rồ. Khi giảng về
khổ đế của Tứ Diệu Ðế Ðức Phật dạy: "Sống chung
với người mình không ưa thích là khổ, xa lìa người
thân yêu là khổ." Tuy nhiên, tâm từ là trạng thái
tâm cao thượng vô cùng trong sạch, không bám níu,
luyến ái hay dính mắc vào bất luận gì.
Quả thật khó thương yêu một người mà không có
chút luyến ái nào, thương một cách vô tư, không có
ý niệm tự ngã, ý niệm về ta và của ta; bởi vì từ
thủa nào con người luôn luôn ôm ấp dưỡng nuôi cái
"ta" một cách sâu ẩn trong lòng. Thương mà không
có sự phân biệt nào giữa cái này với cái kia,
không đặt một ranh giới nào giữa người này với
người khác, xem tất cả mọi người là anh, là chị,
thương bao quát đồng đều vô hạn định, một tình
thương như thế xem hình như không thể có. Tuy
nhiên, những ai đã cố gắng thể hiện, dầu ở mức độ
ít oi khiêm tốn nào, sẽ được ân thưởng và sẽ thấy
không hoài công.
Những tư tưởng thù nghịch và sân hận rất là tai
hại và gây rất nhiều tổn hại cho người nuôi dưỡng
nó. Khi lòng sân trổi dậy họ có thể hành động
giống như thú. Ðó là tâm trạng si mê của con
người. Ðiều này đúng trên bình diện cá nhân cũng
như ở tầm mức quốc tế.
Mettà, tâm từ là chất liệu giải độc hữu hiệu
nhất để tiêu trừ lòng sân hận bên trong, mà cũng
là phương thuốc trị liệu công hiệu nhất để giải
trừ tâm sân của những ai nóng nảy phiền giận mình.
Chúng ta hãy bủa rộng tâm từ vô lượng vô biên, bao
trùm những ai cần đến. Tình thương là ngôn ngữ của
tâm. Tình thương là sức mạnh nối liền, kết hợp lại
với nhau những quả tim, nhằm hàn gắn những vết
thương lòng và thống hợp con người trong tình
huynh đệ thật sự. Khi được trau giồi đến mức độ
cao siêu, tâm từ hình như có một năng lực hấp dẫn
phi thường. Bằng cách rải những rung động từ ái ta
có thể ảnh hưởng và cảm hóa người khác.
Với tình thương, con người tăng trưởng dồi dào
kho tàng hạnh phúc của nhân loại, làm cho thế gian
tươi sáng hơn, cao quý hơn, trong sạch hơn, hơn là
bằng cách nào khác. Không có bất hạnh nào tệ hại
hơn sân hận, có lời nói như vậy, và trước cơn giận
dữ thù nghịch của kẻ khác, không có gì châu toàn
hơn là tấm lòng từ ái, tấm lòng mà trong đó sân
hận đã cáo chung. Tâm từ là một năng lực tích cực.
Mỗi hành động thấm nhuần tình thương đều được thể
hiện với tâm trong sạch hỗ trợ, giúp đỡ, khích lệ,
làm cho con đường của người khác được dễ dàng,
suôn sẻ và thuận lợi chinh phục đau khổ, thành đạt
hạnh phúc tối thượng.
Phương cách trau giồi tâm từ là suy niệm về
những hiểm họa do lòng sân hận gây nên và những
lợi ích của tâm không thù hận. Nếu suy tư đúng
theo chiều hướng của thực tại, đúng theo lý nghiệp
báo, thì thật sự là không có ai, không có gì để
hận thù, rằng oán ghét thù hận là lối cảm xúc điên
rồ chỉ dẫn vào đêm tối, ngày càng tối tăm hơn. Ðó
là lối cảm xúc ngăn chận con đường dẫn đến chánh
kiến.
Sân hận hạn chế, tâm từ phóng thích. Sân hận
bóp nghẹt; tâm từ buông thả. Sân hận đem lại hối
tiếc; tâm từ đưa đến an lạc. Sân hận khuấy động;
tâm từ lắng dịu, tĩnh lặng, an trụ. Sân hận chia
rẽ; tâm từ hoà hợp. Sân hận làm chai cứng; tâm từ
làm dịu hiền. Sân hận gây trở ngại; tâm từ hỗ trợ.
Và như thế ấy, do nhờ khảo sát và trị giá đúng mức
hậu quả tai hại của sân hận và lợi ích của tâm từ,
ta nên trau giồi lòng từ ái.
Tâm từ
Cũng như bà từ mẫu thương yêu con,
Người con duy nhất của bà,
Với tình thương không giới hạn.
Mở rộng, nới xa,
Mênh mông vô bờ bến --
Và, cho con, bà có thể hy sinh
Tánh mạng của chính bà --
Cùng thế ấy, hãy nới rộng tình thương
Của chúng ta đối với tất cả chúng sanh,
Phương Ðông, Phương Tây, Phương Bắc và phương
Nam,
Phía dưới, phía trên --
Mở rộng và mở rộng ra,
Vô lượng, không biết mệt.
Xa thẩm, không thể đo lường.
Một tình thương thuần khiết,
Không pha lẫn luyến ái -- và như thế
Kẻ điên rồ không thể hiểu;
Nhưng bậc thiện trí thì thấu hiểu,
Và thấu hiểu, thông suốt đầy đủ
Giá trị vàng ngọc của nó."
(Kassapa Thera, dựa theo bài kinh Mettà Sutta)
II. Tâm Bi (Karunà)
Karunà, tâm bi, được định nghĩa là: "Ðức tánh
làm cho tâm rung động trước hoàn cảnh nguy khổn
của kẻ khác", "đức tánh làm khởi sanh những cảm
xúc dịu hiền trước cảnh tượng khổ đau của người
khác". Hung dữ, bạo tàn là kẻ thù trực tiếp của
tâm bi (karunà), trong khi ấy phiền muộn âu sầu,
mặc dầu có thể xem hình như bạn, nhưng thật sự
không phải lòng trắc ẩn thương hại và phát tâm
muốn giúp người hoạn nạn, mà chỉ là người thù gián
tiếp hay kẻ thù mang lốt bạn. Chúng ta phải cố
gắng phân biệt rõ ràng loại tâm bi nào là đúng
thật và loại nào là giả. Người có tâm bi không bao
giờ gây tổn thương hay áp chế ai khác và tận lực
làm vơi cạn nỗi sầu của người, tạo tình trạng an
lành cho mình và cho tất cả, không có bất luận sự
phân biệt nào.
Karunà, tâm bi, là lòng trắc ẩn thương người.
Ðây là phẩm hạnh cao cả làm cho quả tim của con
người thánh thiện rung động trước tình trạng đau
khổ của thế gian.
Karunà có đặc tánh của bà mẹ lúc nào cũng suy
tư, hành động và nói những lời êm dịu để an ủi con
trong cơn phiền muộn âu sầu. Người có tâm bi không
thể chịu đựng những đau khổ của kẻ khác, và không
bao giờ bạo động. Mức độ tuyệt đỉnh của tâm bi là
hoàn toàn tận diệt mọi hình thức bạo động. Nguyên
nhân kế cận làm phát sanh tâm bi là nhìn thấy hoàn
cảnh tuyệt vọng của người khốn khổ. Ðúng theo giáo
huấn và gương lành mà Ngài ban truyền, Ðức Phật là
bậc Ðại Bi (Mahàkàrunika). Ngài ban rải tâm bi
rộng lớn đến tất cả chúng sanh và không bao giờ
khuyến khích cãi vã, thù nghịch và bạo hành. Có
lần Ngài dạy các vị đệ tử như sau:
"Như Lai
không hề gây gổ với thế gian, chính thế gian gây
gổ với Như Lai. Người sống đúng theo Giáo Pháp
không cãi vã với bất cứ ai trong thế gian."
[1] Toàn thể giáo huấn của Ðức Phật đượm nhuần đức
hạnh bi mẫn cao thượng.
Bi mẫn và bạo tàn không thể cùng tồn tại chung.
Tâm bi xây dựng trong khi hung bạo tiêu diệt.
Người ích kỷ, người ôm ấp dưỡng nuôi những ý tưởng
chỉ biết mình, không thể trau giồi tâm bi. Con
người biết hy sinh quyền lợi riêng tư của mình,
con người vị tha bất cầu lợi, cũng thấm nhuần tâm
mình với những tư tưởng bi mẫn trong sạch tinh
khiết và lòng muốn cứu giúp và phục vụ người khác.
Người ích kỷ không thể thật sự phục vụ ai, bởi vì
chính động cơ thúc đẩy họ phục vụ đã mang tính
chất vị kỷ, do đó ngăn cản họ làm điều gì thật sự
tốt đẹp. Không quá trể hơn khi lòng vị kỷ cố hữu
trổi dậy và làm chủ tình hình thì họ không còn giữ
tâm trắc ẩn dịu hiền nữa. Chính lòng trắc ẩn dịu
hiền và thương người hoạn nạn khổ đau sẽ khắc phục
tâm chai đá dững dưng cứng rắn.
Nếu rứt bỏ, tách rời tâm bi ra khỏi giáo huấn
của Ðức Phật ắt ta bỏ đi phần nòng cốt và tinh túy
của Phật Giáo, bởi vì tâm bi là nền tảng của tất
cả những phẩm hạnh, những gì tốt đẹp và chánh đáng
và tất cả những hạnh lành trên đều được sanh ra từ
bào thai tâm bi (karunà nidhànam hi sìlam).
Tất cả những phẩm hạnh (pàramità, ba-la-mật) mà
một vị Bồ tát -- người có nguyện vọng trở thành
Phật -- gia công trau giồi, đều khởi sanh từ tâm
bi. Tâm bi do trí tuệ, hay chánh kiến, hướng dẫn,
và trí tuệ do tâm bi hướng dẫn. Hai yếu tố này mật
thiết đi chung với nhau và là quy tắc dẫn đạo nòng
cốt của Phật Giáo.
Tâm bi chắc chắn không phải là một trạng thái
tâm thoáng phớt qua. Nó thật sự là cái gì mạnh mẽ
và vững bền. Trước một người đang nguy khổn, chính
tâm bi thúc đẩy ta có hành động hỗ trợ, giúp người
ấy vượt qua khỏi hoàn cảnh khó khăn. Và như vậy ta
cần phải có ý chí dũng mãnh.
Người ta say mê học hỏi những loại máy móc khác
nhau mà khoa học sáng chế. Nhu cầu cấp bách hơn là
học hỏi, khảo sát cái tâm, guồng máy phức tạp của
con người. Chính sự nghiên cứu học hỏi này mới làm
sáng tỏ mọi hiểu lầm giữa người và người.
Có những vần thơ rằng:
"Phần lớn đời sống như sương mờ, như bọt
nước,
Có hai điều vững chắc như tảng đá;
Tình thương, trong cảnh hoạn nạn của người,
Lòng quả cảm, bên trong chính mình."
III. Tâm Hỷ (Mudità)
Hoan hỷ trong sự thành công của kẻ khác là
trạng thái tâm cao thượng thứ ba, được gọi là
mudità, tâm hỷ.
Ðây không phải chỉ là vui vẻ hỷ hạ suông mà là
một niềm vui chân thật, vị tha, chia sẻ với người
thành công. Người thù trực tiếp của tâm hỷ là ganh
tỵ và kẻ thù gián tiếp là bãi buôi mừng rỡ. Ganh
tỵ là một tật xấu làm ô nhiễm tâm và gây buồn khổ
cho con người nuôi dưỡng nó.
Khi người khác lâm cơn hoạn nạn thì ta mở lòng
trắc ẩn thương xót và cố gắng giúp họ ra khỏi cảnh
nguy khổn. Nhưng để chia sẻ niềm vui trong sự
thành công của người thì ta cần phải có tâm hỷ.
Ðây là đức tánh làm cho ta thành thật chia sẻ niềm
vui với sự thành công của người, cũng như hân hoan
vui vẻ với sự thành công của chính ta.
Con người ganh tỵ không thể cảm nghe hạnh phúc
khi người khác tiến bộ hay thành công, trái lại,
lấy làm thích thú khi có ai thất bại và rủi ro.
Vài người cha mẹ ganh tỵ với gia đình khác, vì
trong nhà người ta con cái công thành danh toại,
còn con nhà mình thì hư hỏng. Quả thật vô nghĩa
lý, vì như vậy chỉ tự chuốc lấy hậu quả buồn
phiền.
Ganh tỵ là một tật xấu mà hình như hầu hết
những hạng người khác nhau trong xã hội -- trí
thức, chánh trị gia và chí đến những người cao
sang quyền quý v.v... -- đều chia sẻ. Nếu quả thật
là vậy, thì có cần nói đến những người nghèo khổ
và thất học không? Tuy nhiên, đôi khi những người
này còn ít vị kỷ và hợp tác dễ dàng hơn. Thay vì
ôm ấp dưỡng nuôi những tư tưởng ganh tỵ, chúng ta
phải tận lực gia công quyết chí vượt qua khỏi mọi
trở ngại và viên mãn hoàn thành ước vọng của mình.
Hãy ghi nhớ rằng cái nghiệp của ta có vai trò quan
trọng trong cuộc sống của chúng ta.
Mudità, tâm hỷ, là thái độ ngợi khen một người,
tâm hỷ loại trừ ác cảm. Do công phu hành thiền và
khảo sát những thăng trầm của kiếp sống chúng ta
sẽ có thể trau giồi đức hạnh cao cả này và hoan hỷ
với tình trạng an lành, hạnh phúc và tiến bộ của
người khác.. Khi chúng ta đã thuần thục, thành
thật vui với niềm vui của người khác, thì tâm ta
trở nên trong sạch tinh khiết và cao thượng. Thấy
người bụng đói ta cho thức ăn với tâm bi (karunà).
Khi ăn xong, người ấy hết đói và cảm nghe thoải
mái vui vẻ, ta cũng nghe vui vẻ hân hoan. Một hành
động bất vụ lợi như vậy đem lại cho ta niềm vui
tinh khiết trong sạch, tâm hỷ (mudità). Ðến đây ta
nhận thức rõ rằng những trạng thái tâm cao thượng
này tác động chung và hỗ trợ lẫn nhau.
IV. Tâm Xả (Upekkhà)
Trạng thái tâm cao thượng thứ tư, và cuối cùng
là tâm xả, upekkhà. Ðây là "tâm quân bình", bình
thản và không phải là trạng thái dửng dưng lãnh
đạm. Xả là hậu quả của tâm an trụ vắng lặng. Bốn
phẩm hạnh cao thượng từ, bi, hỷ, xả liên quan và
tùy thuộc lẫn nhau rất mật thiết, nhưng chính tâm
xả luôn luôn canh phòng ba tâm kia. Xả là đức tánh
trọng yếu nhất, sâu sắc nhất và cũng khó trau giồi
nhất.
Ðời sống không phải là một vườn hoa hồng. Ta
phải cần nhiều nhẫn nhục, tinh tấn và ý chí bất
lay chuyển để trau giồi những đức hạnh ấy và đồng
thời tránh khỏi ích kỷ hay thiên vị. Xả, hay tâm
quân bình, lãnh đạo, hướng dẫn ba loại tâm cao
thượng kia, giữ hành giả trong vị trí an toàn và
đem lại niềm tin nơi chính mình, không ỷ lại nơi
ai khác.
Tất cả chúng ta đều phải đối phó với tám thăng
trầm của đời sống (attha loka dhamma, tám pháp thế
gian): được và thua, danh thơm và tiếng xấu, ca
tụng và khiển trách, hạnh phúc và đau khổ. Và khi
đã chạm trán với những kinh nghiệm phũ phàng ấy
thì quả thật là khó mà không chao động. Nhưng
người đã có trau giồi đầy đủ tâm xả thì không
phiền lụy. Người ấy không lay chuyển. Giữa những
lời ca tụng và khiển trách, dầu hạnh phúc hay đau
khổ, người ấy vẫn vững chắc như tảng đá sừng sựng
giữa cơn gió lốc. Lẽ dĩ nhiên đó là thái độ của
chư vị A La Hán, bậc Toàn Thiện. Các Ngài được mô
tả như sau:
"Bậc Thiện Trí từ bỏ tất cả, không nắm giữ bất
luận gì trên thế gian. Các Ngài không thốt ra lời
nào với ẩn ý tham ái. Dầu gặp phải hạnh phúc hay
đau khổ các Ngài cũng không để tinh thần bồng bột
hay suy sụp." Những người kém hơn cũng vậy, dầu
không toàn thiện, nhưng khi đã am tường bản chất
thật sự của kiếp sinh tồn với những thăng trầm của
nó và đã trau giồi tâm xả, cũng có thể đương đầu
với cuộc sống lên xuống bất thường một cách can
đảm. Những vị này có thể thấy sự vật phát sanh và
hoại diệt như thế nào đúng trong bối cảnh của nó.
Không lo âu và vọng động, các Ngài có thể nhận
thức những gì phù du là tạm bợ. "Tâm vắng lặng ...
tiếp tục tiến bước, trong hạnh phúc cũng như bất
hạnh, đều đặn như cái đồng hồ, trong cơn giông
tố." [2]
Nguyên nhân kế cận làm cho tâm xả khởi sanh là
sự thấu hiểu rằng mỗi chúng sanh là kết quả của
cái nghiệp (kamma) của mình. Kẻ thù trực tiếp của
tâm xả là bám níu, luyến ái, và người thù gián
tiếp mang lốt bạn là lòng chai đá dửng dưng, thờ ơ
lãnh đạm.
Nhằm trau giồi tâm xả, một kiến thức về lối tác
động của lý nghiệp báo, nhân sanh quả
(kamma-vipàka) như thế nào, quả thật vô cùng thiết
yếu. Trong ánh sáng của lý nghiệp báo (kamma) ta
sẽ có thể phát triển thái độ buông xả đối với tất
cả chúng sanh, chí đến các vật vô tri vô giác.
Upekkhà, tâm xả, gác qua một bên cả hai, bám
níu (anurodha) và phẩn uất (virodha). Ðó là hai
cực đoan. Người hành thiền đã đi trên Trung Ðạo,
thì không còn chạy theo cái vừa lòng hay ưa thích
và xua đuổi điều phật ý hay ghét bỏ. Hành giả giữ
tâm bình thản, quân bình, không giận dữ, phẩn nộ,
chán nản buồn phiền hay lo âu. Như Wordsworth ghi
nhận: " Những tâm hồn dũng mãnh nhất là những ai
mà tiếng ồn ào của thế gian ít lọt vào tai nhất".
Và hơn 2,500 năm trước đó Ðức Phật dạy:
"Ðúng vậy, rỗng không thì kêu to, nhưng
đầy thì im lặng.
Kẻ ngu như cái hũ trống; người trí như ao hồ."
[3]
Mettà, tâm từ, bao trùm tất cả chúng sanh;
karunà, tâm bi, gồm những chúng sanh đau khổ;
mudittà, tâm hỷ, những chúng sanh dồi dào phong
phú; và upekkhà, tâm xả, bao gồm cả hai, những gì
thiện và những gì bất thiện, những gì yêu quý mến
thương và những gì không ưa thích; những gì vừa ý
và những gì phật lòng, những gì xấu xí và những gì
đẹp đẽ, mà không có bất luận sự phân biệt thiên vị
nào.
"... Hành giả chứng nghiệm phỉ lạc, đã phỉ
lạc ắt tâm an trụ. Hành giả đượm nhuần dồi dào
tâm từ (mettà) và rải bủa xa rộng về một hướng.
Cùng thế ấy hành giả rải tâm từ về hướng thứ
nhì, thứ ba, thứ tư, bên trên, phía dưới, khắp
quanh mình. Hành giả rải khắp đồng đều toàn thể
thế gian với tâm tràn đầy từ ái, dồi dào, ngày
càng rộng lớn, vô lượng vô biên, không căm hờn,
không ác ý. Hành giả sống với tâm thấm nhuần
tràn đầy bi mẫn (karunà), ... hỷ cảm (mudità),
...xả (upekkhà)... không ác cảm, không thù hận.
"Tựa hồ như có đầm sen kia dễ mến, nước trong
veo, mát mẻ, dịu ngọt, nằm giữa cồn bãi trắng
phao ngoạn mục; và một người nọ từ hướng Ðông,
Tây, Nam hay Bắc, mệt mỏi nhuể nhoại dưới ánh
nắng nóng bức, kiệt lực, khát nước, miệng khô.
Ðến đầm sen người ấy mặc tình giải khát và tắm
rửa tươi tỉnh. Cùng thế ấy ... người đã đến với
Giáo Pháp và Giới Luật (dhamma-vinaya) mà Ðức
Phật đã ban truyền, đã trau giồi tâm từ, tâm bi,
tâm hỷ và tâm xả, cũng đạt đến trạng thái nội
tâm vắng lặng -- Như Lai tuyên ngôn, chính với
nội tâm vắng lặng mà người ấy theo đúng pháp
hành thích nghi của người hành thiền." [4]
PHỤ BẢN III
Chánh Tinh Tấn
Chánh
tinh tấn có bốn tác dụng là: ngăn ngừa, dứt bỏ,
phát triển, và củng cố. [5]
1. Cái gì là tinh tấn ngăn ngừa?
"Nơi đây, người hành thiền đặt hết ý chí mình
vào công trình ngăn ngừa, không để cho bất thiện
pháp phát khởi; gìn giữ, không để cho những tư
tưởng bất thiện chưa phát sanh có thể phát sanh.
Vị này kiên trì cố gắng phát triển năng lực và
dũng mãnh tăng cường tâm mình (để ngăn ngừa).
"Nơi đây, khi hành giả thấy một hình thể, nghe
một âm thanh, hưởi một mùi, nếm một vị, xúc chạm
một vật, hoặc hay biết một ý tưởng, nhận biết rõ
ràng dấu hiệu hay chi tiết (tức hành giả không để
bị toàn thể hay chi tiết nào của đối tượng ấy gây
xúc động). Hành giả chăm chú kiểm soát, cẩn mật
canh phòng và chế ngự lục căn, không để cho những
tư tưởng như khát khao ham muốn hay chán nản thất
vọng, tội lỗi và bất thiện pháp xâm nhập vào như
người không thu thúc lục căn (bị nó xâm nhập). Ðó
là tinh tấn ngăn ngừa."
2. Cái gì là tinh tấn dứt bỏ?
"Nơi đây hành giả đặt hết ý chí mình vào công
trình dứt bỏ những tư tuởng tội lỗi, bất thiện, đã
phát sanh. Vị này kiên trì cố gắng phát triển năng
lực và dũng mãnh tăng cường tâm mình (để dứt bỏ).
"Nơi đây hành giả không chấp nhận những dục
vọng đã phát sanh mà dứt bỏ, tránh xa và xua đuổi,
làm cho nó chấm dứt và tan biến. Cùng thế ấy (vị
này tránh xa và xua đuổi) những tư tưởng sân hận
và hung bạo đã phát sanh. Ðó là tinh tấn dứt bỏ."
3. Cái gì là tinh tấn phát triển?
"Nơi đây, hành giả đặt hết ý chí mình vào công
trình tạo nên và phát triển những tư tưởng thiện
chưa phát sanh. Vị này kiên trì cố gắng phát triển
năng lực và dũng mãnh tăng cường tâm mình (để phát
triển).
"Nơi đây, vị hành giả phát triển những yếu tố
của sự giác ngộ (thất giác chi), vốn đặt nền tảng
trên cuộc sống ẩn dật, trên sự dứt khoát buông xả,
và trên sự chấm dứt mà cuối cùng đưa đến giải
thoát. Thất giác chi là: niệm, trạch pháp, tấn,
phỉ, an, định và xả. Ðó là tinh tấn phát triển."
4. Cái gì là tinh tấn củng cố?
"Nơi đây hành giả củng cố đề mục hành thiền
thích hợp của mình. Ðó được gọi là tinh tấn củng
cố."
Ðó là bốn tinh tấn. Những bất thiện pháp được
đề cập ở đây là ba căn bất thiện, nguồn cội của
tất cả những nghiệp bất thiện. Ðó là những tư
tưởng tham ái, sân hận và si mê (lobha, dosa,
moha). Tất cả những say mê khác đều kết hợp quây
quần chung quanh ba căn cội này. Ðối nghịch với ba
căn này là ba căn thiện: không-tham, không-sân,
không-si (alobha, adosa, amoha).
Tác dụng của bốn nỗ lực này là giúp thành tựu
viên mãn công trình hành thiền. Tứ chánh cần hay
chánh tinh tấn là điều kiện tất yếu không thể
không có, để đạt đến trạng thái định. Ta đã thấy
rằng chánh tinh tấn nằm trong nhóm "định", và như
vậy, liên quan mật thiết và tùy thuộc lẫn nhau với
hai chi kia là chánh niệm và chánh định. Ba chi
này sinh hoạt chung và cùng lúc với nhau. Nếu
không có chánh tinh tấn ắt không thể khắc phục năm
pháp triền cái [6]. Chánh tinh tấn tiêu trừ những
tư tưởng bất thiện vốn làm trở ngại sự lắng tâm và
đàng khác, phát huy và củng cố những tâm sở thiện,
nhằm phát triển trạng thái định.
PHỤ BẢN IV
Pháp Triền Cái (Nìvarana)
"Này
chư tỳ khưu, có năm chướng ngại làm cho ta mù
quáng, không thấy, không hiểu biết và do đó cướp
mất trí tuệ của ta. Năm chướng ngại ấy kết hợp với
đau khổ và không đưa đến Niết Bàn." [7]
"Nìvarana", triền cái, có nghĩa là những gì làm
trở ngại và ngăn chận sự phát triển tinh thần.
Ðược gọi là triền cái hay chướng ngại tinh thần,
bởi vì nó hoàn toàn đóng chắc, cắt đứt và ngăn
chận. Nó khóa hẳn cánh cửa mở vào giải thoát. Năm
ấy là gì?
1. Tham dục (kàmacchanda),
2. Oán ghét (vyàpàda),
3. Hôn trầm và dã dượi (thìna-midha),
4. Phóng dật và lo âu (uddhacca-kukkucca),
5. Hoài nghi (vicikicchà).
1. Kàmacchanda, tham dục, là sự ham muốn duyên
theo nhục dục ngũ trần. Những tư tưởng tham dục
chắc chắn làm chậm trể sự phát triển tinh thần. Nó
làm tâm chao động và trở ngại công trình lắng tâm
an trụ. Sở dĩ có tham dục phát sanh là vì không
thu thúc lục căn. Vì không cẩn mật canh phòng sáu
cửa (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý) nên những tư
tưởng tham ái có thể xâm nhập vào và làm ô nhiễm
tâm thức. Do đó người hành thiền cần phải cẩn
trọng thu thúc lục căn, không dể duôi hờ hửng để
cho chướng ngại tham ái ngăn chận, khoá đóng con
đường giải thoát của mình.
2. Chướng ngại kế đó là oán ghét hay ác ý. Cũng
như trường hợp của tham dục, sự chú tâm sai lầm,
kém khôn ngoan, không sáng suốt, dẫn đến ác ý, oán
ghét hay sân hận. Và nếu không được kiểm soát kịp
thời, những tư tưởng bất thiện này sẽ thấm nhuần
tâm và che lấp kiến thức, làm cho ta mù quáng,
không thấy rõ sự thật. Nó làm méo mó toàn thể tâm
thức và các tâm sở liên hệ và như vậy, gây trở
ngại cho Ánh Sáng Chân Lý, đóng kín con đường đưa
đến Tự Do. Tham dục và oán ghét đặt nền tảng trên
si mê, chẳng những làm chậm trể sự trưởng thành
của tâm trí mà còn tác dụng như nguyên nhân của
những cuộc chia rẽ, tranh chấp và xung đột giữa
người và người, giữa quốc gia này với quốc gia
khác.
3. Chướng ngại thứ ba là hôn trầm và dã dượi,
một trạng thái tâm uể oải, không buồn hoạt động.
Ðó không phải là trạng thái uể oải của cơ thể vật
chất như có người lầm tưởng, bởi vì chí đến các vị
A La Hán và chư Phật là những bậc đã hoàn toàn
khắc phục các pháp triền cái, đôi khi vẫn còn cảm
nghe cơ thể mệt mỏi. Giống như miếng bơ quá đặc,
dính cục lại, làm cho ta khó trét trên bánh mì,
trạng thái hôn trầm dã dượi làm cho ta nhuể nhoại.
biếng hoạt động và như vậy, làm cho người hành
thiền mất lòng nhiệt thành, kém quyết tâm, rồi
tinh thần trở nên ươn yếu và lười biếng. Sự hôn
trầm làm cho tâm thần càng thêm dã dượi và cuối
cùng đưa đến trạng thái tâm chai đá hửng hờ.
4. Chướng ngại thứ tư, phóng dật và lo âu, là
một chướng ngại khác làm chậm trể bước tiến tinh
thần. Khi mà tâm trở nên phóng dật thì nó giống
như bầy ong bị vỡ ổ, cứ vo vo bay quanh quẩn không
ngừng và như vậy, khó an trụ được. Một cái tâm
chao động tức nhiên không thể vắng lặng. Chính
tình trạng chao động là một trở ngại trên con
đường dẫn đến vắng lặng, con đường hướng thượng.
Trạng thái lo âu cũng tệ hại như phóng dật. Khi mà
người kia mãi mãi lo âu, hết chuyện này đến chuyện
khác, hết việc nọ đến việc kia, những việc đã làm
xong và những việc chưa làm được, và luôn luôn tư
lự lo âu về những chuyện rủi may của đời sống, thì
chắc chắn là tâm người ấy không bao giờ an lạc.
Tất cả những tình trạng quấy rầy, bực dọc, phiền
phức, lo âu và không yên ấy là những trở ngại cản
ngăn, không để tâm an trụ. Do đó, phóng dật và lo
âu hẳn là pháp triền cái.
5. Chướng ngại thứ năm, hoài nghi, cũng là
chướng ngại cuối cùng. Danh từ Pali
vi +
cikicchà, đúng theo nghĩa từng chữ, là "không
(vi = vigata) thuốc (cikiccha)". Các nhà chú giải
giải thích chướng ngại này là tình trạng thiếu khả
năng quyết định về bất luận điều gì; và cũng xem
hoài nghi là không tin tưởng rằng có ai có thể đắc
thiền (jhàna). Quả thật vậy, người mà mắc phải
chứng bịnh hoài nghi, bất định, không nhất quyết
về điều mình đang làm, thì rõ thật là vô cùng tai
hại, và ngoại trừ khi nào chấm dứt tâm trạng ấy
người kia sẽ còn tiếp tục đau khổ vì nó. Ngày giờ
nào mà con người còn bị tâm trạng hoài nghi làm
lung lạc tinh thần, như người ngồi trên hàng rào,
thì đó là một tệ hại tinh thần rất trầm trọng cho
công trình trau giồi tâm trí.
Tâm mà bị những chướng ngại tai hại trên thấm
nhuần sẽ không thể an trụ một cách tốt đẹp vào bất
cứ đề mục nào có bản chất trong sạch. Ðúng rằng
người kia có thể gom tâm vào một đối tượng với
những tư tưởng bất thiện như tham ái, sân hận
v.v... nhưng đó là tà định (micchà-samàdhi). Ngày
giờ nào mà các bợn nhơ tinh thần hay khát vọng
(kilesa) còn tồn tại nơi người nào thì tư tưởng
nhiễm ô và bất thiện sẽ còn phát sanh nơi người
ấy. Tuy nhiên, người hành thiền đã gia công thực
hành tâm vắng lặng (samàdhi) không còn có thể lầm
lạc phạm điều bất thiện; bởi vì đã kiểm soát các
pháp triền cái.
Nhằm điều phục năm pháp triền cái, hành giả cần
phải trau giồi và phát triển năm yếu tố tâm lý gọi
là chi thiền (jhànanga). Ðó là:
vitakka,
vicàra, pìti, sukha và ekaggatà (tầm, sát, phỉ,
lạc, trụ), đối nghịch với năm triền cái. Chính
năm chi thiền này nâng đỡ, đem tâm trạng của hành
giả từ thấp lên cao. Loại tâm kết hợp với những
yếu tố tâm lý ấy được gọi là "thiền" (jhàna). Năm
chi thiền, kể theo thứ tự và từng bước một, điều
phục năm pháp triền cái, vốn ngăn chận con đường
đưa đến trạng thái tâm "định". Mỗi chi thiền chính
xác đối nghịch với một triền cái.
Chi thiền trụ (ekaggatà, nhứt điểm tâm, hay gom
tâm an trụ vào một điểm) chế ngự chướng ngại tham
dục; chi thiền phỉ (pìti) chế ngự chướng ngại oán
ghét (vyàpàda); chi thiền tầm (vitakka) chế ngự
chướng ngại hôn trầm và dã dượi; chi thiền lạc
(sukha) chế ngự chướng ngại phóng dật và lo âu;
chi thiền sát (vicàra) chế ngự chướng ngại hoài
nghi. Nếu sắp xếp ngang nhau thì sẽ như thế này:
tham dục <-> trụ
oán ghét <-> phỉ
hôn trầm và dã dượi <-> tầm
phóng dật và lo âu <-> lạc
hoài nghi <-> sát
PHỤ BẢN V
Sona, Vị Hành Giả Nhiệt Thành
Vào
thời Ðức Phật có Ðại Ðức Sona-kolivisa [8] rất là
tinh tấn. Ngài cố ép mình quá sức -- cả thân lẫn
tâm -- trong khi hành thiền, nhưng rồi thất bại.
Và Sư có ý nghĩ như sau:
"Trong số các đệ tử của Ðức Thế Tôn mà đã tận
lực cố gắng hành thiền, thì ta đây là một. Mặc dầu
vậy, ta vẫn chưa thanh lọc hết những ô nhiễm trong
tâm. Gia đình ta khá giả. Ta có thể thọ hưởng tài
sản sự nghiệp để làm việc thiện. Hay là ta từ bỏ
công trình tu tập này, trở về nếp sống thấp kém
hơn, thọ hưởng tiền của và làm việc phước thiện,
tạo nghiệp lành."
Ðức Thế Tôn đọc được ý nghĩ của Ðại Ðức Sona,
đến gần và hỏi: "Này Sona, phải chăng là con đang
suy nghĩ rằng: 'Trong số các đệ tử của Ðức Bổn Sư
mà đã tận lực cố gắng ... (như trên) ... tạo
nghiệp lành?" "Bạch Ðức Thế Tôn, đúng như vậy."
"Và con nghĩ thế nào, này Sona, khi còn tại gia
cư sĩ có phải con là một nhạc sĩ rất tài chăng?"
"Bạch Ðức Thế Tôn, đúng như vậy." "Và con nghĩ thế
nào, này Sona, khi cây đờn của con lên dây cao quá
mức, con có thể dùng nó mà đờn đúng giọng không?"
"Bạch Ðức Thế Tôn, quả thật không được."
"Và con nghĩ thế nào, này Sona, khi cây đờn của
con lên dây quá thấp, con có thể đờn đúng giọng
không?" "Bạch Ðức Thế Tôn, quả thật không được."
"Tuy nhiên, này Sona, khi đờn được lên dây vừa
đúng, không quá căng cũng không quá dùn, con có
thể đờn đúng giọng không?" "Bạch Ðức Thế Tôn, chắc
chắn là con đờn được."
Cùng thế ấy, này Sona, cố gắng quá mức làm cho
con người quá căng thẳng, và không đủ cố gắng sanh
ra lười biếng. Như vậy, này Sona, con hãy quyết
tâm dũng mãnh như thế này: Thấu hiểu tình trạng
quân bình của ngũ căn [9], ta sẽ quyết chí thành
đạt mục tiêu bằng cách kiên trì và đều đặn tinh
tấn." "Bạch Ðức Thế Tôn, con xin vâng."
Ðại Ðức Sona hành đúng theo lời chỉ giáo và về
sau trở thành một trong các vị đệ tử A La Hán của
Ðức Phật. [10]
PHỤ BẢN VI
Loại Trừ Những Tư Tưởng Bất Thiện
Bài
kinh số 20 của bộ Majjhima Nikàya, Trung A Hàm,
tựa đề
Vitakka-santhàna Sutta có ghi lại
những điều chỉ dạy về phương cách loại trừ những
tư tưởng bất thiện, rất cần thiết cho người hành
thiền. Sau đây là phần chánh yếu của bài kinh.
[11]
Ðức Phật dạy:
"Này chư tỳ khưu, người hành thiền gia công
thành tựu tâm trí cao thượng nên thỉnh thoảng nhớ
suy tư năm điều. Năm điều ấy là gì?
1. "Nếu, khi suy niệm về một đề mục mà những tư
tưởng xấu xa tội lỗi, bất thiện, kết hợp với tham,
sân, si phát sanh đến hành giả, vị này nên (để
loại trừ những tư tưởng bất thiện ấy) hãy hướng
tâm suy niệm về một đề mục khác có tánh cách
thiện. Chừng ấy, tâm bất thiện bị loại trừ, biến
tan. Do sự loại trừ này tâm trở lại vững vàng, an
trụ và trở nên vắng lặng, hợp nhất và định vào đề
mục.
"Giống như người thợ mộc rành nghề hay tập sự,
đẻo một cái chốt vừa vặn, tốt đẹp, rồi đóng vào lỗ
để tống đẩy ra một cái chốt thô kịch, xấu xí,
không vừa, cùng thế ấy hành giả loại trừ, đẩy lui
đối tượng bất thiện bằng cách hướng tâm suy niệm
về đối tượng khác có tánh cách thiện. Chừng ấy
những tư tưởng bất thiện, kết hợp với tham, sân,
si, bị loại trừ và tan biến. Do sự loại trừ này
... (như trên) ... và định vào đề mục.
2. "Nếu, khi đã hướng tâm về đề mục khác có
tánh cách thiện mà những tư tưởng bất thiện vẫn
còn phát sanh, hành giả hãy suy xét về hiểm họa
của nó như sau: 'Quả thật vậy, những tư tưởng này
của ta rõ ràng là bất thiện, đáng bị khiển trách
và nó sẽ đem lại đau khổ.' Chừng ấy, những tư
tưởng bất thiện bị loại trừ, tan biến. Do sự loại
trừ này ... và định vào đề mục.
3."Nếu, khi đã suy xét về hiểm họa của những tư
tưởng bất thiện mà nó vẫn còn phát sanh, hành giả
hãy lờ đi, không để ý đến, không lưu tâm suy niệm
về các pháp bất thiện ấy nữa. Chừng ấy, những tư
tưởng bất thiện bị loại trừ, tan biến. Do sự loại
trừ này ... và định vào đề mục.
4. "Nếu, khi đã không để ý đến, không lưu tâm
suy niệm về các tư tưởng bất thiện ấy nữa mà nó
vẫn còn phát sanh, hành giả hãy suy niệm về việc
loại trừ nguồn gốc của những tư tưởng bất thiện
ấy. Chừng ấy, những tư tưởng bất thiện bị loại
trừ, tan biến. Do sự loại trừ này ... và định vào
đề mục.
5. "Nếu, khi đã suy niệm về việc loại trừ nguồn
gốc của những tư tưởng bất thiện ấy mà nó vẫn còn
phát sanh, hành giả hãy cắn răng lại và ép lưỡi
sát vào nắp vọng, thu thúc, khắc phục và lấy tâm
(thiện) kiểm soát tâm (bất thiện). Chừng ấy, những
tư tưởng bất thiện bị loại trừ, tan biến. Do sự
loại trừ này ... và định vào đề mục.
"Nếu, do suy niệm về một đề mục thiện, suy xét
về hiểm họa của những tư tưởng bất thiện, không
lưu tâm đến và không suy niệm về những tư tưởng
bất thiện, suy niệm về việc loại trừ nguồn gốc của
những tư tưởng bất thiện, cắn chặt răng và ép lưỡi
sát vào nắp vọng và thu thúc, khắc phục, chế ngự
tâm (bất thiện) bằng tâm (thiện), mà hành giả loại
trừ được những tư tưởng bất thiện, tâm trở lại an
trụ vững vàng và vắng lặng, hợp nhất và định vào
đề mục, vị hành giả ấy được gọi là đã vững chắc
làm chủ con đường mà tiến trình tư tưởng mình đã
trải qua. Vị ấy có tư tưởng mà chính mình muốn suy
tư. Vị ấy đã cắt đứt lìa tham ái và trọn vẹn tháo
gỡ thằng thúc (phát sanh do tham ái). Vị ấy đã
khắc phục ngã mạn và chấm dứt đau khổ."
Chú thích:
[1] Majjhima Nikàya, Trung A Hàm 40/I 284
[2] R. L. Stwevenson.
[3] Sutta Nipàta, v, 721.
[4] Majjhima Nikàya, Trung A Hàm, 40/I284
[5]
Samvara, pahàna, bhàvanà, anurakkhana.
[6] Xem Phụ bản IV.
[7] Samyutta Nikàya, Tạp A Hàm, v, 97
[8] Vinaya Pitaka, Tạng Luật, II. I ff;
Anguttara, Tăng Nhứt A Hàm, iii, 374-5.
[9] Ngũ căn là: tín căn, tấn căn, niệm căn,
định căn, tuệ căn
(saddhà, viriya, sati,
samàdhi và pannà). Majjhima Nikàya, Trung A
Hàm, 70, 77. Về ngũ căn, xin đọc Samyutta Nikàya,
Tạp A Hàm, v, 377.
[10] Câu chuyện này được ghi lại trong Bản Chú
Giải của kinh Trưởng Lão Tăng Kệ, Theragàtha:
Sư nhận lãnh một đề mục hành thiền nơi Ðức
Phật, nhưng không thể gom tâm an trụ vì lúc ấy
Sư ngụ tại Rừng Mát, nơi có đông người. Rồi Sư
nghĩ: 'Thân ta quá tiều tụy để có thể tiến đạt
hạnh phúc thật sự. Bổn phận của người đạo sĩ là
phải khắc phục những khổ đau của cơ thể.' Do đó
Sư không quan tâm đến những cơn đau nhức ở chân
vì quá sức thiền hành, và tận lực gia công,
nhưng vẫn không thâu hoạch được thành quả nào.
Rồi Sư tự nghĩ, 'Ðã hết sức cố gắng mà ta không
thể thành tựu đạo quả nào. Vậy thì cuộc sống tu
hành này có lợi ích gì cho ta? Ta sẽ huờn tục,
trở lại cuộc sống thấp kém hơn và tạo phước.'
Lúc bấy giờ Ðức Bổn Sư thấu hiểu ý nghĩ ấy và,
muốn cứu giúp Sư, Ngài dạy Câu Chuyện Cây Ðờn,
dạy Sư làm thế nào để giảm bớt tình trạng căng
thẳng tinh thần. Lãnh hội lời dạy Sư lên đỉnh
núi Kên Kên hành đạo và đắc Quả A La Hán." --
Psalms of the Brethen, do Mrs. Rhys Davids dịch
(P.T.S.) trang 275.
[11] Ðể được vắn tắt, nơi đây chỉ ghi lại một
câu chuyện. Muốn có đầy đủ chi tiết xin đọc "The
Removal of Distracting Thoughts", do Soma Thera
dịch, (Kandy, BPS), Wheel 21.