Thứ Tư, 21 tháng 10, 2015

Sự tích về cây huyết dụ với dược tính huyền diệu

Dân gian nhiều người biết về tác dụng chữa bệnh của cây huyết dụ, cây này cũng gắn với sự tích kỳ lạ.
Truyền thuyết về cây huyết dụ với dược tính thần kì
Huyết dụ là cây thuốc và cũng là cây cảnh được nhập trồng từ lâu đời. Tên gọi của nó bắt nguồn từ một truyền thuyết xa xưa…
Chuyện kể rằng, ngày xưa, có một người chuyên làm nghề giết lợn. Nhà anh ta ở cạnh một ngôi chùa. Hằng ngày, cứ mờ sáng, hễ nghe tiếng chuông chùa là anh ta thức dậy mổ lợn. Một hôm, sư cụ lên chùa nằm mộng thấy một người đàn bà dắt theo 5 đứa con nhỏ đến khẩn thiết xin cứu mạng, xin sư cụ sáng hôm sau hãy đánh chuông vào muộn hơn ngày thường. Khi tỉnh giấc, sư cụ cũng chưa hiểu rõ sự tình nhưng cũng thực hiện đúng lời thỉnh cầu, nên người đồ tể ngủ quên, dậy muộn quá, không kịp thịt lợn nữa.
Lỡ mất buổi chợ, anh đồ tể chạy sang chùa trách sư cụ, bèn được kể cho nghe về giấc mộng trên. Đến khi về nhà anh ta thấy con lợn cái mình mới mua hôm qua định giết thịt sáng nay đã đẻ được 5 lợn con rồi. Anh mang câu chuyện này kể lại cho bà con nghe, ai cũng nói: “Đúng là linh hồn của người đàn bà ẩn trong con lợn mẹ đã tìm cách cứu những đứa con của mình khỏi chết”.
Anh đồ tể ngẫm nghĩ rồi bàng hoàng hối hận vì đã giết rất nhiều sinh mạng, liền chạy về nhà cầm con dao bầu rồi sang cắm giữa sân chùa, thề rằng từ nay xin giải nghệ. Về sau, con dao hóa thành một loại cây có lá màu đỏ như máu, nhọn như lưỡi dao bầu và được người đời đặt tên là cây Huyết dụ. Cũng có chuyện kể rằng không biết anh này về sau thế nào, cũng có chuyện kể rằng anh này cố gắng tu hành và đắc quả vị Bồ tát. Không rõ thực hư ra sao nhưng trong Phật giáo xưa nay vẫn giảng rằng làm người phải tu Đức hành Thiện, giết người hại mệnh sẽ tổn Đức nặng nề. Đức tổn mất nhiều rồi thì đến lúc sẽ vô cùng khốn đốn.
cay huyet du
Huyết dụ (Cordyline terminalis Kunth) thuộc họ huyết dụ (Dracaenaceae), có tên khác là huyết dụ lá đỏ, thiết thụ, phất dũ, người Tày gọi là chổng đeng, tên Thái là co trướng lậu, tên Dao là quyền diên ái.
Theo kinh nghiệm dân gian, lá huyết dụ được dùng làm thuốc cầm máu chữa rong huyết, băng huyết (không được dùng trước khi đẻ hoặc đẻ rồi còn sót nhau), xích bạch đới, thổ huyết, lỵ ra máu, đái ra máu, ho ra máu, sốt xuất huyết.
Đông y cho rằng, huyết dụ có vị nhạt, tính mát, tác dụng làm mát máu, bổ huyết, cầm máu lại vừa làm tan máu ứ, giảm đau phong thấp nhức xương trị rong kinh, trị trĩ, xích bạch đới, kiết lỵ, lậu, sốt xuất huyết, thổ huyết, ho ra máu, tiểu tiện ra máu.
Liều dùng trung bình 20 – 30g lá tươi hoặc 8 – 16g lá khô cho các dạng thuốc sắc, có thể dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.
Theo ghi chép trong cuốn “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của giáo sư Đỗ Tất Lợi, cây huyết dụ có hai loại. Loại lá đỏ cả hai mặt và loại một mặt đỏ một mặt xanh. Cả hai đều dùng được nhưng loại toàn đỏ tốt hơn.
Không dùng trước khi đẻ hoặc đẻ rồi mà còn sót nhau, như vậy cổ tử cung sẽ co vít lại.
Một số bài thuốc dùng huyết dụ:
Chữa chứng sốt xuất huyết (kể cả các xuất huyết dưới da): Lá huyết dụ tươi 30g, trắc bá sao đen 20g, cỏ nhọ nồi 20g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.
Chữa ho ra máu, chảy máu cam và chảy máu dưới da: Lá huyết dụ tươi 30g, trắc bá diệp sao cháy 20g, cỏ nhọ nồi 20g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.
Chữa ho ra máu: Lá huyết dụ 10g, rễ rẻ quạt 8g, trắc bách diệp sao đen 4g, lá thài lài tía 4g, tất cả phơi khô, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.
Chữa các loại chảy máu (kể cả xuất huyết tử cung, tiêu chảy ra máu): Lá huyết dụ tươi 40 – 50g (nếu sử dụng lá khô, hoa khô lượng chỉ bằng nửa lá tươi), sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần. Không dùng cho phụ nữ sau khi nạo thai hoặc đẻ sót nhau.
Chữa bạch đới, khí hư, lỵ, rong huyết, viêm dạ dày, viêm ruột, trĩ nội, hậu môn lở loét ra máu: Huyết dụ tươi 40g, lá sống đời (lá bỏng) 20g, xích đồng nam (lá băn) 20g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.
Chữa vết thương hay phong thấp đau nhức: Dùng huyết dụ (cả lá, hoa, rễ) 30g, huyết giác 15g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.
Chữa rong kinh, băng huyết: Lá huyết dụ tươi 20g, rễ cỏ tranh 10g, đài tồn tại của quả mướp 10g, rễ cỏ gừng 8g. Thái nhỏ cho 300ml nước sắc còn 100ml, chia 2 lần uống trong ngày.
Hoặc lá huyết dụ tươi 20g, cành tử tô 10g, hoa cau đực 10g, tóc một ít đốt thành than, thái nhỏ, trộn đều sao vàng rồi sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.
Chữa đi tiểu ra máu: Lá huyết dụ tươi 20g, rễ cây rang 10g, lá lẩu 10g, lá cây muối 10g, lá tiết dê 10g. Tất cả rửa sạch để ráo nước, giã nát vắt lấy nước cốt uống.
Chữa kiết lỵ: Lá huyết dụ tươi 20g, cỏ nhọ nồi 12g, rau má 20g, giã nát cho vào chút nước vắt lấy nước cốt uống ngày 2 lần.
Ngoài ra, trong dân gian còn sử dụng huyết dụ trong bài trí phong thủy, trồng ở phòng khách hoặc trong sân nhà, quan niệm rằng cây sẽ lọc bớt đi những độc tố trong không khí.
Minh Thành
Theo daikynguyenvn
(Tài liệu tham khảo: Đỗ Tất Lợi. Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. 2013. NXB Hồng Đức.)

Nha đam – Cây thuốc quý từ sa mạc

Nha đam (hay lô hội) được coi là một trong những loại cây chữa bệnh hiệu quả nhất hành tinh.
nha đam, lô hội, cây thuốc, Bài chọn lọc,
Nha đam (hay lô hội) được coi là một trong những loại cây chữa bệnh hiệu quả nhất. (rudchenko/iStock)
Nha đam được biết đến như là “hoa huệ của sa mạc”, “cây bất tử” và “cây thuốc”. Công dụng của nó trong lịch sử chủ yếu là xung quanh việc điều trị các vết thương, vết loét, bỏng, nhiễm trùng và ký sinh trùng.
 Tuy nhiên, nha đam đã được nghiên cứu rộng rãi những năm gần đây và nó thể hiện hiệu quả chữa bệnh tốt nhất ở bên trong cơ thể.
Dưới đây là danh sách thành phần dinh dưỡng của nha đam:
– 20 loại khoáng
– 12 loại vitamin
– 18 loại amino a-xít
– 200 hợp chất tự nhiên của thực vật (phytonutrients), bao gồm các enzyme, triterpenes,polysaccharides và glyconutrients
– Đặc tính kháng khuẩn, kháng virus, và kháng nấm mạnh mẽ
Do thói quen ăn uống thiếu dinh dưỡng và enzyme của chúng ta, đã tạo cơ hội cho các tác nhân gây bệnh đường ruột gây hại.
Và nha đam sẽ là một trong những lựa chọn thông minh để bổ sung cho cơ thể. Kết hợp sức mạnh chữa bệnh của nha đam, đồng thời giảm bớt hoặc loại bỏ thực phẩm chế biến sẵn, sẽ giúp bạn nhanh chóng cải thiện đường ruột và sức khỏe tổng thể.
Để cho lợi ích tốt nhất, hãy chọn loại gel nha đam tươi (không qua tiệt trùng) và không có thành phần nhân tạo hay chất bảo quản (như sodium benzoate), và tiêu thụ 1-2 ounces (khoảng 30-60 gram) một ngày tùy theo mỗi người.
nha đam, lô hội, cây thuốc, Bài chọn lọc,
Để cho lợi ích tốt nhất, hãy chọn loại gel nha đam tươi và không có thành phần nhân tạo hay chất bảo quản. (iStock)
Công dụng
Do sự đa dạng của các chất dinh dưỡng và đặc tính chống viêm mà nha đam có thể được sử dụng cho một loạt các lợi ích sức khỏe, bao gồm:
– Giảm viêm và đau khớp
– Chữa lành vết loét, IBS, bệnh Crohn, viêm đại tràng và các rối loạn tiêu hóa khác
– Giúp điều trị và ngăn ngừa nhiễm trùng candida và ký sinh trùng
– Đẩy nhanh việc chữa lành vết thương, bỏng, loét (bên ngoài và nội bộ)
– Giảm táo bón
– Ổn định đường huyết
– Bảo vệ thận
– Thúc đẩy oxy vào máu và bảo vệ cơ thể khỏi stress oxy hóa
– Giảm huyết áp cao
– Cải thiện hiệu suất vật lý và phục hồi
– Cải thiện làn da
– Giúp giảm thiểu và điểu trị trào ngược a-xít
– Chữa lành bệnh về nướu răng
– Giảm các cơn đau tim và đột quỵ
– Hạn chế sự tăng trưởng của các khối u ung thư
Nha đam có nhiều công dụng như vậy là nhờ giải quyết được những nguyên nhân cốt lõi khiến con người bị bệnh, đó là tình trạng viêm mang tính hệ thống và tổn hại hệ miễn dịch do hệ tiêu hóa hoạt động kém với đầy vi khuẩn gây bệnh. Đặc tính chữa bệnh của nha đam chủ yếu là nhờ giàu oxy, giàu dinh dưỡng, kháng khuẩn, kháng virus và kháng nấm.
nha đam, lô hội, cây thuốc, Bài chọn lọc,
Nha đam có nhiều công dụng như vậy là nhờ giải quyết được những nguyên nhân cốt lõi khiến con người bị bệnh. (LuckyBusiness/iStock)
Cách dùng
Nha đam có một hương vị rất đậm đà và không có nhiều giải pháp thực tế để kết hợp vào thực phẩm. Tuy nhiên, bạn có thể dùng nó như một phần ổn định trong chế độ ăn uống ở dạng bổ sung.
Bạn có thể thử kết hợp nha đam trong những cốc sinh tố hàng ngày hoặc là nấu với đường phèn như một loại nước mát giải nhiệt.
Hãy xem xét việc mua một vài cây nha đam để giữ một nguồn cung cấp tươi ngay trong nhà. Vì chúng có nguồn gốc từ sa mạc nên rất dễ chăm sóc.
Bằng cách này, bạn luôn có nha đam dùng cho bất kỳ vết cháy nắng, vết thương, hoặc bị kích ứng da, và có thể thu hoạch nha đam tươi cho các điều trị bên trong cơ thể cũng rất tốt.
nha đam, lô hội, cây thuốc, Bài chọn lọc,
Hãy xem xét việc mua một vài cây nha đam để giữ một nguồn cung cấp tươi ngay trong nhà. (felinda/iStock)

Lợi ích bất ngờ từ cây và quả trứng cá

Chắc hẳn ai cũng quá quen thuộc với cây trứng cá , nhưng không phải ai cũng biết tác dụng của loài cây này
Những lợi ích sức khỏe bất ngờ từ cây và quả trứng cá đem lại
Quả trứng cá có một lượng chất xơ, tinh bột, nước, caxi và phốt pho giúp cho xương chắc khỏe, tăng cường sắt cho việc thiếu máu…
Trứng cá là một loài cây phát triển nhanh, quả có vị như vị anh đào. Cây và quả của nó có nhiều lợi ích đối với sức khỏe như ngăn ngừa ung thư, tăng cường sức khỏetim mạch, ngừa cao huyết áp và ngăn chặn cơn đau…
Dưới đây là những lợi ít sức khỏe từ cây và quả trứng cá mà ít người biết đến.
Ngừa cao huyết áp
nhung-loi-ich-bat-ngo-tu-cay-va-qua-trung-ca-dem-lai
Cây và quả trứng cá mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe
Quả trứng cá có thể ngừa cao huyết áp. Bệnh cao huyết áp bắt nguồn bởi nhiều thói quen không tốt trong xã hội hiện đại như hút thuốc lá, ăn mặn, chế độ ăn nhiều chất béo và di truyền. Trứng cá chứa một lượng lớn oxit nitric, một hóa chất tự nhiên mà làm thư giãn mạch máu, giúp máu lưu thông, hạ huyết áp.
Phòng ngừa ung thư
Lá của cây trứng cá có tác dụng làm giảm và ngăn ngừa sự phát triển khối u ung thư. Những chiếc lá trứng cá có khả năng chống ung thư rất lớn và có thể được sử dụng rộng rãi hơn trong tương lai để điều trị ung thư …
Chất chống oxy hóa
Quả trứng cá và lá chứa nhiều chất chống oxy hóa, trên thực tế hơn 24 hợp chất flavonoid và phenolic giống như loại được tìm thấy trong trà xanh …Cộng với các hợp chất saponin.
Cung cấp, bổ sung Vitamin C
Lợi ích sức khỏe từ cây và quả trứng cá - Ảnh 2
Quả trứng cá bổ sung vitamin C
Quả trứng cá có chứa một số lượng cao của Vitamin C là một chất chống oxy hóa mạnh giúp chống lại cảm lạnh, ống khói, và thậm chí cả bệnh tim mạch. Trong 100 gram quả trứng cá chứa 150 mgs Vitamin C ..
Tốt cho tim mạch
Lá trứng cá làm trà giúp bảo vệ tim khỏi các cơn đau do có chứa chất chống oxy hóa ngăn ngừa viêm động mạch dẫn đến nhồi máu cơ tim.
Giảm đau cho người bị gout
Gout là một dạng đau đớn do bệnh viêm khớp gây ra bởi sự tích tụ của acid uric trong máu, thường bắt nguồn từ việc tiêu thụ quá nhiều các loại thực phẩm giàu đạm và uống ít nước. Tuy trái trứng cá không thể chữa khỏi bệnh gout, nhưng nếu ăn từ 9-12 trái ba lần một ngày sẽ có tác dụng tốt cho việc điều trị cơn đau.
Tốt cho bệnh nhân tiểu đường
Bên cạnh việc sử dụng thuốc, ăn trứng cá giúp bệnh nhân tiểu đường kiểm soát lượng đường trong máu. Thực tế, sử dụng trứng cá mang lại lợi ích sức khỏe hỗ trợ bệnh nhân tiểu đường không xa lạ, nó được dùng khá phổ biến ở một số quốc gia trồng nhiều loại cây này.
Giảm đau đầu
Lợi ích sức khỏe từ cây và quả trứng cá - Ảnh 3
Quả trứng cá giúp cải thiện tình trạng lưu thông máu khắp cơ thể
Ngoài tác dụng tích cực cho bệnh nhân gút, quả trứng cá còn góp phần giúp các mạch máu được thư giãn, cải thiện tình trạng lưu thông máu khắp cơ thể. Bằng cách này, nó mang lại hiệu giảm đau đầu nhanh chóng.
Kháng khuẩn
Kháng khuẩn là một lợi ích của quả trứng cá đang bị bỏ phí. Nó được xem như một loại kháng sinh tự nhiên đánh bại tụ cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột, nhiễm trùng huyết và các bệnh bạch cầu.
Cải thiện tiêu hóa
Trứng cá giúp cải thiện tiêu hóa. Bạn có thể làm các loại thức uống nhẹ nhàng từ hoa trứng cá. Nó được sử dụng để làm dịu cơn đau của bệnh đau dạ dày, co thắt khí, và chứng khó tiêu.
Tác dụng khác của quả trứng cá
Quả trứng cá có chứa chất xơ, nước, tinh bột, protein cho cơ bắp khỏe mạnh, canxi và phốt pho cho xương chắc khỏe, sắt cho bệnh thiếu máu, và Vitamin B cho sức sống và tinh thần tốt.

Cây tre cứu người: Làm đẹp cho các bà hoàng và chữa bệnh nan y

Ngày xưa không có mỹ phẩm đắt tiền như bây giờ, không có bác sĩ thẩm mỹ chuyên hút mỡ căng da, các bà hoàng hậu, công chúa, cung tần mỹ nữ làm đẹp bằng cách nào?
Ông Ưng Viên bảo cách làm đẹp của các bà hoàng và cung tần mỹ nữ hoàn toàn bằng những thứ trong tự nhiên, không hề dùng bất cứ một thứ hóa chất nào nhưng hữu hiệu hơn nhiều so với các phương cách Âu – Mỹ hiện nay. Đơn giản và có hiệu quả nhất là bằng các chế phẩm từ cây tre.
Để chống dư thừa mỡ, nhất là vùng bụng, dùng kết hợp ba thứ: “trúc tạo”, “trúc nha” và “trúc nhự”. Ba thứ được trích lấy dịch, trộn ba thứ dịch ấy lại bôi lên xác trúc nhự đã lấy hết dịch. Đem chế phẩm này trải lên vạt giường tre, người nằm ép bụng xuống. Bên dưới, lấy than đốt lên xông, tốt nhất là dùng than ổi, thứ nhì là than đước.
Tác dụng: Làm săn cơ, khi cơ săn mỡ sẽ được đào thải qua hô hấp da; ba vị thuốc quý này còn làm ổn định mạch máu dưới hệ tiêu hóa, tác động đến hệ thần kinh thực vật, làm thông suốt kinh mạch, khiến cho cơ thể thon chắc, khỏe khoắn.
“Trúc nhự” là dịch tre non, cách lấy khá đơn giản, dễ nhất là cắt sâu vào thân cây tre non ở vị trí hai phần ba cây tre tính từ dưới lên, sau đó bẻ cụp cây tre xuống, cột vào vị trí bẻ cụp một dụng cụ (ống tre hoặc chai lọ) để hứng dịch. Sau một đêm đã có dịch chảy ra dùng được. Trúc nhự có mùi thơm rất dễ chịu, vì vậy mà cơm lam ngon hơn cơm thường. Lấy dịch “trúc tạo” và “trúc nha” phức tạp hơn, chủ yếu bằng phương pháp đốt nóng lên.
Làm đẹp cho phụ nữ còn có một loạt các chế phẩm khác từ tre dùng để xoa, bóp hoặc làm các món ăn từ “trúc nữ”, “trúc liêu giao”, “trúc phấn”, “trúc bì”… Nhiều chế phẩm từ tre đặc trị bệnh phụ khoa cũng góp phần cho việc làm khỏe làm đẹp nữ giới.
hoa-tre
Dân quê miền Trung mỗi khi bị sốt nóng lạnh thường lấy một đoạn tre tươi đốt lên hứng lấy nước uống. Ông Ưng Viên nói, thứ nước đó là “trúc lịch”, có tác dụng trị bệnh hư hỏa (cơ thể sốt cao nhưng trong người lạnh run) và chứng viêm sinh thực nữ… Dân gian băm cả đoạn tre bỏ vào ấm sắc uống cũng hạ được sốt. Cũng có thể băm nhỏ đoạn tre, gồm cả mắt, nướng lên ép lấy nước, cũng có tác dụng tương tự, thứ này gọi là “trúc lịch sái”.
Nếu là tre non nướng chín vắt lấy nước, gọi là “trúc liêu giao”, được dùng để bào chế mỹ phẩm, làm gia vị ăn uống, hương liệu xông. “Trúc liêu giao” kết hợp với trầm hương thiên nhiên, chè, nếp dùng để trị chứng đau một bên đầu, xây xẩm kinh niên, huyết áp cao lẫn huyết áp thấp, chứng tỳ vị hư hàn ẩu thổ ẩu tả. Nó cũng có thể dùng phối hợp với một số vị thuốc khác để trị chứng liệt dương, lãnh cảm, trị bệnh tim và thống phong.
Măng vòi tre đài nướng vắt lấy nước gọi là “trúc thượt”. “Trúc thượt” phối hợp với mật ong, chè và trầm hương tự nhiên dùng bào chế thuốc trị các chứng ung nhọt độc, mạch lươn (rò hậu môn) ở phụ nữ.
Nhánh tre đài chỉ có gai mà không có lá, có măng nứt ra, cả nhánh tre này gọi là “trúc lự”, dùng bào chế thuốc trị ban và thương hàn.
Cái vỏ tre cũng hữu dụng không kém. Phần ngoài cùng là “trúc phấn”, dùng làm mỹ phẩm, thuốc sát trùng và điều kinh nữ. Bóc đi lớp trúc phấn, còn lại là “trúc bì”, cũng dùng làm mỹ phẩm, làm thuốc trị vết thương và làm dịch bôi cho sinh thực nữ.
Ruột tre tươi gọi là “trúc ẩn”, chuyên trị bệnh phụ nữ (huyết trắng, nấm ký sinh…), có thể hấp cơm hoặc chưng với đậu đen. Ruột tre sau khi chưng với đậu đen, bào chế thành thuốc bôi hoặc dùng nấu canh với cá, phụ nữ ăn rất tốt. Ruột tre ngâm muối gọi là “trúc diêm”, ngoài việc chữa bệnh phụ khoa còn dùng bào chế thuốc trị viêm họng, trị liệt dương.
Hoa tre, gọi là “trúc ba” hoặc “trúc cái”, là vị thuốc chữa được nhiều bệnh. Trong hai loại tre làm dược liệu, chỉ có tre mỡ ra hoa, còn tre gai thì không (trong các loài tre khác có loài ra hoa quanh năm nhưng không có tác dụng chữa bệnh). Tre mỡ thường sống đến 60-70 năm, cây nào tồn tại đến cuối đời đều ra hoa, sau khi ra hoa thì tre sẽ chết.
“Trúc ba” là vị thuốc cấp trị hen suyễn, làm cắt cơn cho những người bị hen suyễn nặng. Nó còn đặc trị bệnh hôi miệng, chế phẩm thuốc từ hoa tre dùng ngậm trị được bệnh amidale đã viêm mủ mà kháng sinh không còn tác dụng. Đặc biệt, hoa tre xông cùng với trầm hương thiên nhiên có thể tái tạo khứu giác của người bệnh.
Như đã đề cập, cả cây tre có hoa (trừ hoa) đều được gọi là “trúc thạch”, nhưng nếu dùng toàn thân cây tre này, kể cả hoa, băm ra sắc thành thuốc, gọi là “trúc ngọc lộ”. “Trúc ngọc lộ” phối hợp với một số dược liệu khác bào chế thành thang thuốc chữa được căn bệnh “Lục mạch tuy đều hình nhục thoát tử vô sầu tuyệt” nan y nói ở phần trước.
Về căn bệnh nan y thứ hai “tam quan tuy tuyệt uất đàm bạo nộ”, có thể dùng “trúc nữ”, “trúc liêu giao”, “trúc liên hổ” bào chế với một số thảo dược khác, tất cả không quá 12 vị, nhưng các vị từ tre vẫn là vị quân (vị thuốc chủ đạo) để chữa trị.
“Trúc liên hổ” là chất thải trên mặt đất của một giống trùn ở dưới đất giữa bụi tre, chuối và mít. Ngoài công dụng nói trên, nó cũng được dùng hầm với thịt bê (lao nhục tử) có thể phối hợp trị bệnh lao sác.
Trong một bụi tre thường có những cây tre đực săn chắc, thường được chọn làm cán cuốc, làm đòn gánh, đòn xóc hoặc đan lát những dụng cụ lâu bền. Sở dĩ gọi là tre đực vì nó chỉ đứng một mình, dưới gốc không mọc măng, trên cây không có măng vòi. Cái mắt nào của tre đực bị côn trùng đục làm hỏng biến thành một cái rốn lõm sâu vào, cái mắt đó gọi là “trúc thị”. “Trúc thị” dùng làm thuốc trị ban, làm tan huyết khối và làm mỹ phẩm.

Đối với các dược liệu trị bệnh từ cây tre, dân tộc ta có hàng ngàn năm tích lũy kinh nghiệm, cho nên dân gian sử dụng rộng rãi tre trong ăn uống và chữa các bệnh thông thường, chỉ có lợi chứ hoàn toàn không có hại gì cho sức khỏe, vì toàn bộ cây tre không có bộ phận nào độc hại. Tuy nhiên, các vị thuốc từ tre bào chế cùng với các dược liệu khác để đặc trị, nhất là đặc trị các bệnh nan y, nhất thiết phải do thầy thuốc giỏi thực hiện, vì mặc dù tre không độc hại, nhưng do sự tương tác giữa các dược liệu với nhau, nếu không bào chế đúng cách đúng liều đúng lượng có thể dẫn đến kết quả không như mong muốn.

Thứ Hai, 19 tháng 10, 2015

Làm sạch tuyến tùng với thảo mộc thiên nhiên

Đây là những tác động của Natri Forua lên tuyến tùng của bạn – Nó tạo nên lớp vỏ xung quanh ngăn không cho tuyến tùng hoạt động. Tuyến tùng là một trong những cơ quan quan trọng nhất của cơ thể bạn? Đó chính là con mắt thứ 3 của chúng ta và làm cách nào để làm sạch tuyến tùng trước những hóa chất florua?

Tuyến tùng hoặc 'con mắt thứ 3' của mỗi người có thể được kích hoạt để liên kết với tần số thế giới tâm linh và cho phép bạn hiểu được tất cả những kiến thức, các vị thần và trạng thái thống nhất xung quanh mình. Khi tuyến tùng của một người được điều chỉnh vào các tần số thích hợp với sự trợ giúp của yoga, thiền hoặc các phương pháp bí truyền khác nhau sẽ cho phép người đó du hành vào những không gian khác, trạng thái này thường được gọi là du hành thể vía hay là xuất vía.

Với nhiều phương pháp tiên tiến và cổ xưa giúp con người có thể kiểm soát ý thức và hành động trong thế giới vật lý. Vâng, điều này quả là kỳ lạ, nhưng tại Hoa Kỳ, những cựu nhân viên thuộc chính phủ Liên Xô và các tổ chức ngầm khác nhau đã thực hiện nghiên cứu này với nhiều lứa tuổi và đạt được thành công vượt xa trí tưởng tượng của chúng ta.

Tuyến tùng là biểu tượng trong Công giáo tại Rome; họ miêu tả tuyến tùng có hình nón như quả thông trong các tác phẩm. Các xã hội cổ xưa tại Ai Cập và La Mã đã biết lợi ích của tuyến tùng và minh họa nó trong biểu tượng một mắt của họ.


Chúng ta cũng có thể tham khảo về tuyến tùng tại mặt sau của đồng đô la Mỹ, đó là biểu tượng 'con mắt thấy tất cả - all seeing eye,' biểu tượng này cho thấy khả năng của một cá nhân (hoặc nhóm cá nhân) sử dụng tuyến này để đi sang phía bên kia (thế giới tinh thần) và có thể kiểm soát những suy nghĩ và hành động của con người trong thế giới vật chất bằng cách xem xét những suy nghĩ của chúng ta trong thế giới vật chất tại tất cả các mốc thời gian.

Nhiều nghiên cứu được thực hiện cho đến nay xác nhận rằng khoảng thời gian giữa 1 và 4 giờ sáng là thời điểm hóa chất được giải phóng trong não mang lại cảm giác kết nối với các tầng mức tâm linh cao hơn của một người – one’s higher source.

Thuyết âm mưu: Làm thế nào họ đang giết tuyến tùng của bạn.

Vào cuối những năm 90, nhà khoa học, Jennifer Luke, thực hiện nghiên cứu đầu tiên về tác động của natri florua đến tuyến tùng. Cô xác định rằng tuyến tùng, nằm ở giữa của bộ não, là một mục tiêu tấn công của florua. Tuyến tùng là nơi hấp thu florua hơn bất kỳ cơ quan nào khác trong cơ thể, ngay cả xương. Tuyến tùng là giống như một nam châm với natri florua. Nó làm vôi hóa tuyến tùng làm cho nó không hiệu quả trong việc cân bằng các hocmon nội tiết trên toàn bộ cơ thể.

Các nghiên cứu khác nhau đã cho thấy rằng Natri florua luôn đi vào tuyến quan trọng nhất trong não. Đây là chất duy nhất tấn công vào trung tâm quan trọng nhất của bộ não. Nó có một cách phổ biến trong các loại thực phẩm, đồ uống, trong nước sinh hoạt và nước uống của chúng ta. Natri florua có trong 90% lượng nước cung cấp cho người dân Hoa Kỳ. Bộ lọc nước bạn mua trong các siêu thị cũng không đẩy được florua ra khỏi nước. Chỉ còn phương pháp đảo ngược thẩm thấu hoặc chưng cất nước là loại bỏ được florua ra khỏi nước. Mua nước chưng cất là phương pháp rẻ nhất mà bạn có thể tham khảo.


Natri florua có trong nước sinh hoạt, thực phẩm, bia, soda, và những sản phẩm khác mà bạn thấy! Hầu như là không thể loại bỏ chúng từ chế độ ăn uống của bạn…Vì vậy, đây là một số lời khuyên về việc làm thế nào để loại bỏ natri florua và khử chất vôi tuyến tùng của bạn.

CẦN SA LÀ PHƯƠNG ÁN TỐT! Như bạn đã biết, hóa chất của cần sa, THC, tấn công bất kỳ tế bào đột biến nào trong cơ thể bạn đồng thời tăng cường hoạt động của các tế bào khỏe mạnh. Đây là phương pháp mà cần sa chữa trị ung thư và các bệnh khác ... Vâng, nó khử chất vôi tuyến tùng theo cách như trên. Bạn càng ăn nhiều thì nó càng hoạt động tốt. Tôi đề nghị nấu ăn hoặc ăn dầu cần sa để bạn có thể hấp thụ nhiều hơn THC.


Nếu bạn không muốn sử dụng Cần sa hoặc không thể, sẽ có thảo dược khác thay thế. Cây rau mùi - ngò ta - Cilantro là một phương án tuyệt vời. Bạn ăn càng nhiều rau sống càng tốt, nếu bạn muốn, bạn có thể nấu ăn như một gia vị hoặc nấu trà từ chúng. (Nếu bạn nấu trà từ rau mùi, tôi đề nghị bạn thêm vào một chút mật ong để tạo vị ngọt ngào cho nước trà, hoặc bạn có thể uống chúng khi nước trà còn ấm vì mùi vị của rau mùi không dễ thưởng thức cho lắm)

Andrew Norton Webber - Chưng cất chất lỏng và Tuyến tùng


Trà xanh, Fluorid & tuyến giáp



Dưới đây là một số vấn đề cơ bản với việc làm khỏe tuyến tùng:


1. Thủy ngân, Mercury - Đây là một chất độc thực sự tồi tệ cho tuyến tùng. Đừng để chất này đi vào cơ thể của bạn. Thủy ngân có trong chất hàn răng là chất độc cho tuyến tùng. Hãy loại bỏ chúng. Tất cả các loại vắc-xin y tế cũng bị nhiễm độc thủy ngân. Thimersal (một chất bảo quản vaccine) là ethylmercury, khi chúng đã vào não thì rất khó khăn để bạn loại bỏ chúng ra khỏi não. Tránh ăn cá và những động vật ăn thức ăn ở đáy như tôm. Cá ngừ và thịt cá heo thức ăn chứa nhiều thủy ngân - những con cá càng lớn thì chúng càng có nồng độ thủy ngân cao trong các mô cơ thể.

Bóng đèn sinh thái - là một trong những thiết bị chứa hơi thủy ngân sẽ giải phóng vào không khí và đi vào hơi thở của người sử dụng thiết bị.

Thủy ngân có thể được loại bỏ khỏi cơ thể bằng cách sử dụng rong tiểu câu - Chlorella, cỏ mì wheatgrass và tảo spirulina hàng ngày. Sử dụng rau mùi hàng ngày giúp bạn loại bỏ thủy ngân từ mô não.

2. Florua – có trong kem đánh răng và nước máy sinh hoạt. Nó cũng là một chất độc có tác động lớn đối với bạn. Hãy tránh tiếp xúc với nó trong mọi cách có thể. Florua làm vôi hóa các tế bào mô tuyến tùng và đóng chức năng của tuyến tùng.


3. Thực phẩm hữu cơ – chứa một số thuốc trừ sâu là chất độc của tuyến tùng. Thực phẩm hữu cơ lành mạnh chưa chế biến có thể làm sạch tuyến tùng. Nhưng thịt không phải là thức ăn hữu ích.

4. Rượu và thuốc lá. Đương nhiên là những sản phẩm này thường được dùng trong những trạng thái tình cảm của người sử dụng chúng(thường là những vấn đề thuộc về giá trị đạo đức hoặc những chấn thương chưa được làm lành).

5. Heart Healing - hãy tăng rung động mỗi khi bạn sợ hãi – rất hữu ích khi bạn bắt đầu thấy các chiều không gian khác.

6. Các chất độc khác - nếu đó là chất độc hại, bạn không nên đưa nó vào trong cơ thể của bạn. Nếu bạn không thể nhận biết được nó thì có nhiều khả năng đó là một chất độc. Những chất độc đó bao gồm chất tạo ngọt nhân tạo (aspartame K - thường có trong nước uống có gas như Coke), đường tinh luyện, phylenanine (squashes), chất khử mùi, hóa chất làm sạch, nước súc miệng nha khoa (trong khi bạn dùng nước muối là đủ) và chất làm mát không khí.

7. Sô-cô-la thô. Cacao thô là một chất kích thích tuyến tùng/giải độc ở liều cao vì bên trong nó chứa chất chống oxy hóa.

Thực hiện nghiêm túc các phương pháp từ 1- 6 trong một năm hoặc lâu hơn chắc chắn sẽ mang lại sự thức tỉnh tuyến tùng. Bước 6 là tùy chọn mở nhưng rất hữu ích.



THAM KHẢO THÊM: 

http://www.naturalnews.com



Rau Mùi tây giết chết 86% tế bào ung thư phổi

Rau Mùi tây [Parsley, tên La tinh Petroselinum crispum
  
Ung thư phổi là dạng nặng và phổ biến trong các chứng ung thư gây tử vong người lớn tại Hoa Kỳ. Theo Hiệp hội Ung thư Phổi Hoa Kỳ, từ năm 1987 ung thư phổi đã thay ung thư vú là nguyên nhân hàng đầu của tử vong ung thư ở phụ nữ. Ung thư phổi gây tử vong nhiều hơn ba loại ung thư phổ biến nhất cộng lại: ung thư ruột, ung thư vú, ung thư tụy. Ước tính có khoảng 159.260 người Mỹ dự kiến chết vì ung thư phổi năm 2014, chiếm 27% của tất cả các trường hợp tử vong ung thư. 70-80% các trường hợp ung thư phổi bắt nguồn từ một loại ung thư được gọi là ung thư phổi tế bào nhỏ (NSCLC). Hợp chất rau mùi tây giết chết tế bào ung thư và đóng vai trò như một chất dự phòng. Một nghiên cứu được công bố trên PubMed 2013 báo cáo rằng, một hợp chất được tìm thấy trong rau mùi tây đã tiêu diệt 86% tế bào ung thư phổi trong ống nghiệm. Các chất diệt tế bào ung thư từ thực vật được gọi là flavonoid apigenin. 

Các thực vật dồi dào flavonoid apigenin bao gồm:
- Cần tây [Celery]
- Hành tây [Onions]
- Cúc mẫu thảo [Chamomile]
- Cỏ gia vị Oregano
- Cỏ gia vị Hương thảo [Thyme]
- Mùi ta [Coriander hay Cilantro]
- Artichok
- Vang đỏ
- Nhưng vô địch là Mùi tây [Petroselinum crispum].

Nghiên cứu của Trung quốc năm 2005 đã chứng minh rằng apigenin giết chết một loạt các tế bào ung thư: vú, buồng trứng, tuyến tụy, tuyến tiền liệt, ruột kết. Các nhà nghiên cứu thấy rằng apigenin ức chế tăng sinh tế bào ung thư và điều trị kết hợp của nó với các thuốc kháng u là rất hiệu quả trong phổi người. Một nghiên cứu tại Trung tâm ung thư Đại học bang Ohio, đã thấy apigenin ức chế tế bào ung thư vú được gọi là "bất tử" – nó làm điều này bằng cách tham gia vào việc điều hòa gen. Một nghiên cứu của Italia phát hiện ra rằng những người ăn rau mùi tây một cách thường xuyên giảm 68% nguy cơ ung thư phổi.

Đó là khoa học mới, còn Y học cổ truyền trong các nền văn hóa khác nhau khắp thế giới đã xử dụng rau mùi tây như thuốc suốt 2000 năm. Mùi tây, thoạt đầu được trồng ở vùng Địa Trung Hải cho mục đích y tế. Theo truyền thống nó được xử dụng để điều trị sỏi thận. Đức đã phê duyệt mùi tây để phòng ngừa và điều trị sỏi thận. Theo tiến sĩ Mao Shing Ni, mùi tây được Trung y xử dụng như một loại thuốc bổ gan và mắt, phương thuốc cổ bảo vệ mắt là uống hằng ngày nước ép rau pha trộn cần tây, bạc hà, mùi tây. Trong từ điển thảo dược của 101 quốc gia, mùi tây là một chất chống oxy hóa mạnh mẽ, đã được xử dụng truyền thống như một thuốc lợi tiểu bằng cách kích thích chức năng thận và bàng quang, tăng sự hấp thu oxy. Nó thành công chữa bệnh sỏi thận, viêm mãn tính tuyến tiền liệt và tử cung. Trà mùi tây uống hàng ngày cho bệnh thấp khớp. Thêm nữa, mùi tây rất giàu vitamin và khoáng chất: Vitamin K, beta-carotene, vitamin C, vitamin nhóm B, sắt, magiê, diệp lục, histidine…

Gần đây, các thí nghiệm cho thấy rằng mùi tây có lợi cho bệnh nhân tiểu đường, tăng cường mức độ chất chống oxy hóa trong não, điều hòa huyết áp, và có khả năng kháng khuẩn, kháng nấm...

Cơ thể bạn là một phần mở rộng của môi trường, bao gồm tất cả mọi thứ: suy nghĩ, hệ thống niềm tin, tiếp xúc độc hại, ánh sáng mặt trời, tập thể dục và tất nhiên, mọi thứ bạn chọn để đưa lên bàn ăn. http://www.endoriot.com/…/parsley-compound-kills-86-of-lung…

Rau Mùi ta [Coriander hay Cilantro tên La tinh Coriandrum sativum] xem ở đây:https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1533971636861876&set=a.1417591505166557.1073741828.100007471630110&type=1&theater
 
Lena Morgoun

Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2015

TATHAGATAGARBHA

Lời giới thiệu của người dịch:
Bản-thể-của-Phật còn gọi là Như Lai Tạng, Phật Tính, Pháp Giới, Chân Như... (tiếng Phạn là Tathagatagarbha), là một khái niệm quan trọng của Đại Thừa Phật Giáo. Tathagatagarbha được ghép từ hai chữ Tathagata và garbha: Tathagata có nghĩa là như thế, Đức Phật thường tự xưng mình chỉ là như thế, hiện ra nơi đây là như thế, dịch ra tiếng Hán là Như Lai; chữ garbha có nghĩa từ chương là "nguyên nhân" hay "bên trong" (của một thứ gì đó)..., tiếng Hán dịch là chủng tử. Vậy Tathagatagharba hay Bản-thể-của-Phật mang một ý nghĩa như thế nào trong Phật Giáo?
Dưới đây là một bài viết ngắn của thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki (1870-1966) giải thích về Bản-thể-của-Phật. Giới thiệu dông dài về D.T. Suzuki có lẽ cũng bằng thừa, bởi vì hầu hết những ai đã từng dày công học Phật cũng đều biết đến ông, người đã mang thiền học Zen vào thế giới Tây Phuơng trong tiền bán thế kỷ XX. Bài viết này được tìm thấy trong tập san France-Asie, số đặc biệt với chủ đề Phật Giáo, được phát hành tại Sài-gòn năm 1959. Số đặc biệt này đã góp nhặt các bài viết của một số các học giả Phật Giáo lỗi lạc nhất thế giới vào thời bấy giờ. Số báo này được tái bản tại Pháp lần thứ nhất năm 1987 và lần thứ hai năm 2008. Gọi là một số báo đặc biệt thế nhưng thật ra đây lại là một quyển sách đồ sộ mang tựa đề là "Présence du Bouddhisme" ("Sự Hiện Diện của Phật Giáo"). Lần tái bản thứ hai chỉ giữ lại phần giáo lý thế mà cũng đã dày gần 600 trang chữ nhỏ.
Người dịch xin mạn phép ghép thêm một vài ghi chú nhỏ với hy vọng có thể giúp người đọc dễ theo dõi bản gốc hơn. Các lời ghi chú này được trình bày bằng chữ nghiêng và đặt trong hai dấu ngoặc.
presence_du_bouddhisme
Bìa quyển sách "Sự Hiện Diện của Phật Giáo"
(Hình pho tượng Phật Nằm ở Pagu, Miến Đìện, thế kỷ thứ X,
Xin lưu ý bóng dáng bé tí của một nhà sư ngồi bên dưới để so sánh với kích thước khổng lồ của pho tượng.
Tuy Đức Phật đã tịch diệt hơn hai mươi lăm thế kỷ, thế nhưng sự hiện diện của Ngài luôn vẫn còn đó và hiện ra thật to lớn trước mặt nhà sư nhỏ bé cùng tất cả chúng ta hôm nay, và đấy cũng là ý nghĩa của tấm ảnh bìa quyển sách)
*****
Nếu quý vị yêu cầu tôi giải thích thế nào là "biến-cố-Ngộ" (satori-évenement / event-satori / Satori là tiếng Nhật và cũng là một thuật ngữ đặc thù của thiền học Zen. Chữ Satori có thể tạm dịch là "Ngộ", sự "tỉnh giác", sự "quán thấy sâu xa" hay sự nhận thức được "Bản-thể-của-Phật") và đồng thời cũng muốn biết thêm "thể-dạng-Ngộ" (satori-état / satori-state) và "biến-cố-Ngộ" khác nhau như thế nào, thì tôi sẽ xin giải thích với quý vị như thế này: toàn thể mọi người trong chúng ta, không ngoại trừ một ai, kể cả các chúng sinh hàm chứa tri thức và giác cảm, tất cả đều ở trong thể dạng Ngộ. Tất cả chúng ta đều ở trong thể dạng đó, thế nhưng chúng ta không ý thức được sự kiện này mà thôi. Chúng ta nào có để ý đến bầu không khí bao bọc chung quanh địa cầu; chỉ khi nào gió thổi khiến cho không khí chuyển động thì khi đó chúng ta mới ý thức được sự hiện diện của nó. Sở dĩ chúng ta không hề nghĩ đến sự hiện diện của không khí là vì trước đây nó bất động và ở trong thể dạng ngưng nghỉ (chúng ta luôn ở trong Hiện Thực tức là thể-dạng-Ngộ, thế nhưng chúng ta không hề ý thức được sự kiện hay thể dạng đó. Phải nhờ vào một biến cố nào đó xảy ra thì khi ấy chúng ta mới ý thức được là mình đang "sống" trong Hiện Thực). Dòng luân lưu hay sự chuyển động ấy, nếu tôi có thể nói như thế, chính là "biến-cố-Ngộ". Khi tất cả mọi sự đều ngưng nghỉ (đình chỉ, không chuyển động) thì chúng ta sẽ ở trong thể dạng Ngộ (thế nhưng chúng ta lại không ý thức được sự kiện đó). Chỉ khi nào có một chuyển động tâm thần đặc biệt xảy ra thì khi đó "biến-cố-Ngộ" mới có thể phát sinh. Biến cố ấy tất nhiên không phải là một biến cố thông thường. Nó chỉ xảy đến với một người nào đó, trong một bối cảnh nào đó, và phải cần đến một sự chuẩn bị từ trước (phải tu tập và phát huy sự chú tâm cần thiết).
Chúng ta hãy cứ nhìn vào tấm gương của Đức Phật. Ngài từ bỏ lạc thú phàm tục, tìm vào rừng để suy nghiệm triết học dưới sự chỉ dạy của các vị thầy uyên bác nhất thời bấy giờ. Thế nhưng những gì Đức Phật nghiền ngẫm bằng cách dựa vào lý trí thì hoàn toàn chỉ mang tính cách trí thức. Sự tìm tòi đó không hề giúp Ngài quán thấy được bản chất của Hiện Thực. Vì vậy Ngài không thể nào tin tưởng hoàn toàn vào các phương pháp biện luận triết học. Thế là Ngài lại phải trở vào rừng thêm một lần nữa, và mục đích lần này là để luyện tập bằng cách hành xác. Có thể Ngài đã suy nghĩ rằng khi nào còn quan tâm quá đáng đến các đòi hỏi của thân xác thì khi đó tâm thần sẽ còn bị xao động và tách rời ra khỏi các mục tiêu mà nó mong cầu. Tình trạng hoang mang ấy tất sẽ khiến cho tâm thức không sao thực hiện được các chủ đích của chính nó. Đấy có thể là lý do đã khiến cho Đức Phật quyết định giảm thiểu tối đa các nhu cầu vật chất: ngủ thật ít, ăn thật ít, giữ tư thế ngồi yên và triền miên lắng sâu vào thiền định. Thế nhưng cách luyện tập ấy cũng vẫn chưa làm cho Ngài hài lòng, bởi vì khi các nhu cầu vật chất bị giảm xuống thì sức khoẻ cũng theo đó mà ngày càng kém đi. Ngài kiệt lực và không còn đứng lên được nữa. Chỉ khi nào sự sinh tồn được bảo vệ thì khi đó con người mới có thể tìm thấy được sự Thực Hiện (Giác Ngộ) và sự toại nguyện vẹn toàn (sự Giải Thoát); đấy là lý do cho thấy tại sao con người lại cần phải có một sức khoẻ thật tốt. Nếu cố tình cắt giảm bớt đi các nhu cầu tối thiểu giúp cho sự sống tồn tại, thì tất nhiên sẽ khó lòng mang lại các điều kiện cần thiết như trên đây. Đức Phật bắt đầu ăn uống trở lại. Thế nhưng ước nguyện phải đạt được một cái gì đó vẫn còn nguyên trong lòng Ngài. Thật sự ra thì Ngài cũng không ý thức được rõ rệt điều ước nguyện ấy là gì, Ngài chỉ hiểu rằng có một niềm khát vọng nào đó trong lòng. Sự suy tư mang tính cách trí thức tỏ ra quá nông cạn, phép luyện tập bằng cách hành xác cũng chẳng khá hơn. Khát vọng của Ngài vẫn còn nguyên vẹn, không một chút phôi pha. Ngài cảm thấy một nỗi lo âu thật sâu kín phát sinh trong lòng mình bởi vì sự biện luận trí thức cũng như phép luyện tập hành xác cả hai đều không thể giúp cho niềm khát vọng của Ngài bớt đi sự ray rứt. Ngài cũng chẳng biết phải làm gì nữa. Không còn một phương cách nào khác để giúp Ngài tìm ra một lối thoát. Ngài bèn quyết định loại bỏ phương pháp biện luận trí thức vì đấy chỉ là cách bày ra một trò đối tác giữa chủ thể và đối tượng, và cái trò đối tác đó sẽ chẳng bao giờ có thể mang lại thể dạng an bình trong tâm thức được. Nếu chúng ta tự ép buộc mình phải trở thành một con người đạo đức toàn vẹn thì đấy cũng chỉ là cách tạo ra một sự phân tách: phía bên này là người ước mong đạt được sự vẹn toàn đạo đức (với tư cách là chủ thể), và phía bên kia là chính sự vẹn toàn ấy (tức là đối tượng). Chính vì thế nên sự vẹn toàn đó sẽ chẳng bao giờ có thể đạt được, bởi vì chưa kịp đạt được một cấp bậc nào đó, thì tức khắc lại hiện ra một cấp bậc khác cao hơn, hướng vào một sự vẹn toàn khác lý tưởng hơn. Do đó chúng ta sẽ chẳng bao giờ có thể trở thành hoàn hảo được. Khi vẫn còn sự tách rời giữa người tìm kiếm sự vẹn toàn và chính sự vẹn toàn ấy thì mục đích tối hậu sẽ chẳng bao giờ có thể đạt được. Một khi mà sự chia đôi Hiện Thực ra thành hai thành phần đối nghịch nhau vẫn chưa loại bỏ được – tức là tình trạng phân tách giữa chủ thể và đối tượng, một bên là người suy nghĩ về một thứ gì đó và bên kia là chính thứ ấy, hay nói cách khác là giữa người nêu lên câu hỏi và chính câu hỏi của người ấy, vẫn còn nguyên - thì khi đó sự phân tách ấy sẽ vẫn còn tiếp tục ngăn chận sự Thực Hiện (Giác Ngộ).
Tất nhiên là những gì trình bày trên đây đều dựa vào lý luận. Thế nhưng Đức Phật thì lại không lý luận, Ngài chỉ đơn giản cảm nhận được một điều gì đó thật ray rứt trong lòng mình mà chính Ngài cũng không hiểu được bản chất của nó là gì. Ngài cảm thấy vô cùng tuyệt vọng. Người Thiên Chúa Giáo vẫn thường hay thốt lên: "Khi đã mất hết hy vọng thì chỉ còn phó mặc cho Trời". Đấy là cách mà họ tách rời Trời ra khỏi con người; và chính vì thế nên họ đành phải thốt lên những lời tuyệt vọng và chỉ còn biết giao phó cho Trời. Thế nhưng người Phật Giáo chúng ta thì lại suy ngẫm về mọi sự vật dưới một khía cạnh khác hơn: chúng ta không hề quan tâm đến thế giới hiện tượng. Thật vậy Đức Phật không đánh mất thì giờ vào cách suy luận đại loại như thế. Ngài chỉ cảm thấy một niềm khát vọng muốn đạt được một cái gì đó và niềm khát vọng ấy luôn ray rứt trong lòng mình. Khi nào cảm tính khát khao ấy hiện ra thì người ta cũng sẽ vượt thoát khỏi thể dạng tri thức thông thường và vượt lên trên sự tương đối. Đức Phật dồn tất cả sức chú tâm của mình vào niềm khát vọng ấy đến độ Ngài đã hòa nhập vào việc tìm hiểu nó và để rồi trở thành chính nó. Ngài không còn tách rời ra khỏi nó nữa (để trở thành chủ thể và đối tượng) và cũng không còn cảm thấy khao khát nữa: Ngài đã trở thành MỘT với nó. Những gì Ngài suy tư đã trở thành chính Ngài, không còn phải là những thứ tư duy của Ngài như trước đây nữa (Ngài trở thành chính sự Giác Ngộ và sự Giác Ngộ cũng đã trở thành chính Ngài).
Tất nhiên là Đức Phật không suy nghĩ theo như cách tôi vừa trình bày trên đây; bởi vì đấy là những gì do tôi tự bình giải và diễn đạt ra như thế. Khi nào thể dạng (nhất nguyên) ấy hiện ra thì tư duy cũng sẽ đạt được một sự đồng nhất, một vị thế thăng bằng nào đó, một cách chính xác hơn là quán nhận được bản thể tự nhiên của thực tại (réalité de nature / reality by nature / từ bản chất hay là bản tính tự nhiên là như thế). Chữ "thăng bằng" gián tiếp nói lên sự đa dạng của mọi sự vật và sự hài hòa của chúng (khi nào trông thấy các hiện tượng chuyển động hài hòa và không xáo trộn thì có thể tạm gọi như là một sự thăng bằng), thế nhưng đối với trường hợp quán thấy trên đây của Đức Phật thì chữ "thăng bằng" không mang ý nghĩa như thế, mà đúng hơn là một thứ bản chất tự tại [của mọi hiện tượng]. Ngoài ra thì chữ "nhận diện" cũng không phải là một từ thích hợp cho lắm khi muốn nói rằng các vật thể này được "nhận diện" (indentified / xác định hay được nhận biết...) khác hơn với các vật thể khác. Theo quan điểm của Đức Phật thì không có một sự khác biệt nào giữa sự tìm kiếm và đối tượng của sự tìm kiếm. Ngài lắng sâu vào một thể dạng nhất thể tuyệt đối. (Nêu lên các thuật ngữ như "sự đồng nhất của tư duy", "sự thanh thoát hoàn toàn của tâm thức" hay thể dạng "sambhodi" (sự tỉnh giác hay giác ngộ), thì cũng chỉ là một cách giải thích thuộc lãnh vực tâm lý học mà thôi - lời giải thích thêm của tác giả). Dù sao thì cũng phải xảy ra một biến cố gọi là Satori (Ngộ)thì thể dạng (nhất thể) ấy mới có thể thực hiện được. Sự "giác ngộ" nhờ đó cũng sẽ hiển lộ - như là một sự chuyển động đặc biệt gọi là "biến-cố-Ngộ" (satori-event) hay "kinh-nghiệm-cảm-nhận-Ngộ" (satori-experience), dù rằng thể dạng nhận biết (identification / nhận diện, xác định...) ấy còn tùy thuộc vào mỗi người trong chúng ta. Khi biến cố ấy xảy ra thì chúng ta cũng sẽ nhận biết được rằng mình đang ở trong thể dạng Ngộ ấy. Chính vì thế nên người ta đã thuật lại rằng khi Đức Phật đạt được kinh nghiệm cảm nhận trên đây thì Ngài cũng đã biểu lộ sự kinh ngạc của mình khi nhận thấy rằng tất cả mọi sự vật đều hàm chứa bản-thể-của-Phật - thật sự là tất cả, bởi vì bản thể ấy không nhất thiết chỉ là gia tài riêng của các chúng sinh có giác cảm mà còn hàm chứa trong đất đá và cả các vật thể khác trong thế giới, không ngoại trừ bất cứ thứ gì. Tất cả đều là Phật, thế nhưng chỉ vì các vật thể không tự ý thức được cái bản thể đó của chúng mà thôi. Đấy chẳng qua chỉ vì chúng không thể tạo ra được "biến-cố-Ngộ" giúp chúng ý thức được sự kiện đó(chỉ có con người là có thể bừng tỉnh nhờ vào "biến-cố-Ngộ" mang lại từ sự tu tập của chính mình để nhận ra rằng kẻ hung ác, người hiền lành, kẻ tham lam, người rộng lượng, kẻ xấu xí, người xinh đẹp... tất cả đều là chính mình; xúc cảm hay tư duy trong tâm thức cũng là chính mình; đất đá, cây cỏ, một áng mây lửng lơ trên bầu trời, một làn gió thoảng xuyên qua cành lá hay một âm thanh vang vọng trong không gian cũng đều là những biểu hiện của chính mình. Sự bừng tỉnh đó sẽ giúp chúng ta thực hiện được "thể-dạng-Ngộ" và quán thấy được bản thể của chư Phật và của cả chính mình).
Có một người đệ tử hỏi Thầy mình như sau: "Thế con có hàm chứa bản-thể-của-Phật hay không?". Vị Thầy tức khắc trả lời ngay: "Không, mi không hề hàm chứa bản-thể-của-Phật". Người đệ tử hỏi vặn lại:"Con nghe nói rằng tất cả mọi thứ đều hàm chứa bản-thể-của-Phật kia mà... Tại sao con lại không có?" Vị Thầy lại trả lời tiếp như sau: "Côn trùng, súc vật, đất đá..., tất cả đều hàm chứa bản-thể-của-Phật - chỉ trừ có mi là không có". Người đệ tử tỏ vẻ lo lâu: "Thế thì tại sao con lại không có?" Vị Thầy bèn giải thích như sau: "Chỉ vì mi đã nêu lên câu hỏi" (nêu lên thắc mắc trong đầu là cách tự tách rời mình ra khỏi sự thắc mắc của chính mình, tức là tự tạo ra chủ thể và đối tượng, nói cách khác là tự tách rời mình ra khỏi hiện thực). Thắc mắc của người đệ tử đã cho thấy rằng người ấy không thấu triệt được một cách thật ý thức rằng chính mình đang hàm chứa sẵn Bản-thể-của-Phật (vì cứ tưởng rằng bản-thể-của-Phật là một thứ gì đó khác với mình). Sự ý thức hay giác ngộ ấy là một sự kiện vô cùng quan trọng, và nó cũng chỉ có thể xảy đến với con người mà thôi. Vì thế chúng ta cũng có thể bảo rằng tất cả mọi sự vật, kể cả vật chất, đều hàm chứa bản-thể-của-Phật, thế nhưng cần phải là một con người mới cảm nhận được cái bản thể ấy.

Vài lời ghi chú của người dịch

Với một văn phong giản dị, ngắn gọn và quen thuộc, D.T. Suzuki đã tóm lược thật khúc triết và khéo léo ý nghĩa của một khái niệm có thể nói là chủ yếu và then chốt nhất của Đại Thừa Phật Giáo, nhất là đối với Thiền Tông và Kim Cương Thừa. Nếu cho rằng Bản-thể-của-Phật hiện hữu nơi tất cả chúng sinh và mọi vật thể trong thế giới thì đấy có phải là một sự nghịch lý đối với một khái niệm vô cùng quan trọng khác của Đạo Pháp là "tánh không tuyệt đối và tối thượng" của tất cả mọi hiện tượng hay không? Dù sao thì thắc mắc này cũng có vẻ chính đáng. Vậy chúng ta thử tìm hiểu xem hai khái niệm "tánh không" và "Bản-thể-của-Phật" có mâu thuẫn với nhau hay không hay đấy chỉ là một sự "bổ túc" cho nhau?
Quá trình hình thành khái niệm về Bản-thể-của-Phật
Đức Phật trực tiếp nêu lên tánh không trong nhiều bài giảng và cho biết rằng Ngài luôn thường trú trong cõi tánh không tối thượng và tuyệt đối ấy. Thế nhưng không thấy có một bài kinh "nguyên thủy" bằng tiếng Pa-li nào trực tiếp nêu lên khái niệm về Bản-thể-của-Phật một cách dứt khoát và rõ ràng. Chỉ thấy Tăng-nhất Bộ Kinh (Anguttara Nikaya) và một học phái Phật Giáo xưa đã mai một là Đại-chúng bộ (Mahasanghika) đưa ra một vài gợi ý khá mơ hồ về Phật-tính mà thôi. Tóm lại khái niệm về Bản-thể-của-Phật hay Phật Tính nhất thiết chỉ là một khái niệm đặc thù và cá biệt của Đại Thừa nói chung và đặc biệt đã giữ một vai trò thật chủ yếu trong Thiền Học và Kim Cương Thừa.
Khái niệm về Bản-thể-của-Phật chỉ bắt đầu được nêu lên thật rõ ràng từ khoảng năm 200 sau Tây Lịch trở về sau này, và đã được đề cập nhiều nhất trong các bộ kinh như Đại phương đẳng Như Lai Tạng kinh(Tathagatagarbha-sutra, khoảng năm 200 sau Tây Lịch), Thắng man Kinh (Srimaladevisimhanada-sutra, thế kỷ thứ III), Đại bát Niết Bàn Kinh (Mahaparinirvana-sutra, thế kỷ thứ III), Hoa Nghiêm kinh (Avatamsaka-sutra, thế kỷ thứ III), Nhập Lăng Già Kinh (Lankavatara-sutra, thế kỷ thứ III), v.v... Nói chung thì số kinh sách vô cùng phong phú này đã đánh dấu thời kỳ trưởng thành của Đại Thừa Phật Giáo vào các thế kỷ thứ III và IV, sau khi đã được hình thành bốn trăm năm về trước tức vào thế kỷ thứ I trước Tây Lịch.
Có thể nói rằng trong số các kinh sách trên đây thì Nhập Lăng Già Kinh (Avatamsaka-sutralà bộ kinh giải thích khái niệm về Bản-thể-của-Phật sâu sắc và khúc triết nhất. Kinh này được xem là do chính Đức Phật Thuyết giảng thế nhưng thật ra nếu căn cứ vào các dữ kiện lịch sử thì chỉ được trước tác vào khoảng thế kỷ thứ III. Cũng xin nhắc thêm là Bồ-đề Đạt-Ma đã dựa vào kinh này làm nền tảng để sáng lập ra một học phái mới là Thiền Học tại Trung Quốc vào khoảng thế kỷ thứ VI.
Bước sang thế kỷ thứ V người ta lại thấy xuất hiện thêm một tập luận khá quan trọng nữa là tập Bảo tính luận (Uttaratantra-sastra còn gọi là Ratnagotravibhaga). Tập luận này đã triển khai khái niệm về Bản-thể-của-Phật thật sâu rộng với nhiều khía cạnh triết học vô cùng sâu sắc và khúc triết. Chính tập luận này đã giữ một vai trò then chốt đưa đến sự hình thành của Kim Cương Thừa vào khoảng cuối thế kỷ thứ V hay đầu thế kỷ thứ VI.
Trên đây là một vài nét thật khái quát đánh dấu một giai đoạn cực thịnh của Phật Giáo nói chung và của Đại Thừa nói riêng suốt trong nhiều trăm năm, kể từ thế kỷ thứ I trước Tây Lịch cho đến các thế kỷ thứ VII và VIII. Trong giai đoạn này nhiều học phái lớn tuần tự được hình thành như Trung Đạo, Duy Thức Học, Kim Cương Thừa và Thiền Học. Sau giai đoạn hưng thịnh này và cho đến nay không còn thấy một học phái quan trọng nào khác được thành lập thêm. Trên phương diện giáo lý thì bốn học phái lớn trên đây đã đưa ra nhiều cách diễn đạt mới về một số khái niệm trong giáo huấn của Đức Phật, hoặc ít ra thì trên phương diện thực hành cũng đã thiết lập được nhiều phép tu tập đặc thù và chuyên biệt, nhất là đối với Kim Cương Thừa và Thiền Học.
Trong số các đường hướng diễn đạt mới về giáo huấn của Đức Phật, người ta nhận thấy có hai khuynh hướng nổi bật nhất: trước hết là triển khai sâu rộng khái niệm về tánh không và đưa khái niệm này vào vị trí trung tâm của Đạo Pháp, và sau đó là sáng tạo ra thêm một khái niệm mới là Bản-thể-của-Phật (Tathagatagarbha). Vậy Bản-thể-của-Phật, ngoài các cách giải thích của D.T. Suzuki trong bài viết trên đây, còn mang thêm các ý nghĩa hay các cách giải thích nào khác nữa hay chăng?
Định nghĩa về Bản-thể-của-Phật
Trong Đại phương đẳng Như Lai tạng Kinh (Tathagatagarbha-sutra) có một câu như sau: "Trong tất cả chúng sinh đều ẩn chứa tinh anh của Như Lai: tương tự như trong lòng của một người mẹ nghèo nàn ẩn dấu một đứa con đáng yêu, như vàng ròng dấu kín trong một nơi ô uế..."Đại bát Niết-bàn Kinh cũng nêu lên như sau: "Tương tự như bơ hòa lẫn trong sữa, Phật-tính thấm nhuần trong tất cả chúng sinh".
Thế nhưng Bản-thể-của-Phật - còn được gọi là Phật-tính - không những chỉ được xem như một kho báu vô cùng quý giá mà còn là "nguyên nhân" hay một "phương tiện" giúp cho tất cả chúng sinh trở thành Phật. Nói một cách khác Bản-thể-của-Phật còn biểu trưng cho một tiềm năng tự tại trong tâm thức của mỗi cá thể con người giúp họ thực hiện được sự Giác Ngộ. Tiềm năng ấy chỉ tạm thời bị che khuất và bị bóp ngạt bởi vô minh mà thôi. Chính vì thế nên Bản-thể-của-Phật hay Phật-tính, hay Như Lai Tạng (Tathagatagarbha) còn được gọi là "hạt giống", "nguyên nhân" hay "chủng-tử-của-Phật".
Ngoài ra kinh sách cũng thường sử dụng chữ "dhatu" (có nghĩa là giới, thành phần, lãnh vực, thể dạng...) ghép thêm vào chữ "Tathagata" (Như Lai) để tạo ra từ ghép "Tathagatadhatu", có nghĩa là "Thể-dạng-Như-Lai", nhằm để chỉ định Bản-thể-của-Phật. Thuật ngữ này thật ra mang hai thể dạng hay hai bản sắc khác nhau:
- thể dạng thứ nhất là sattvadhatu hay "thể dạng chúng sinh" (chữ sattva có nghĩa là chúng sinh: être / being), tức là thể dạng chung của tất cả các chúng sinh "chưa giác ngộ".
- thể dạng thứ hai là Dharmadhatu hay "thể dạng Đạo Pháp" còn gọi là "Pháp Giới" (cảnh giới của Đạo Pháp), tức là thể dạng giác ngộ của chư Phật, biểu trưng bởi "Hiện Thực tuyệt đối".
Hơn nữa người ta cũng còn thấy kinh sách gọi Bản-thể-của-Phật là Dharmakaya tức là "Pháp Thân" hay là "Thân Đạo Pháp", tức là thể dạng không sinh, không diệt, không hình sắc của chư Phật. Pháp Thân còn được xem là thể tính của hiện thực hiện hữu tự tại nơi chư Phật và tất cả chúng sinh. Tóm lại chữ Pháp Thân được xem đồng nghĩa với các chữ Chân Như, Hiện Thực hay sự Vận Hành của toàn thể Vũ Trụ, nói cách khác là trong mỗi chúng sinh đều hàm chứa sẵn Chân Như hay Hiện Thực để giúp họ cùng với chư Phật vận hành chung trong vũ trụ. Tuy nhiên nếu các chúng sinh nào chưa đạt được giác ngộ thì sẽ không thể nào nhận thấy được phẩm tính ấy của chính mình để hòa nhập với sự vận hành đó.
Ngoài ra Kim Cương Thừa còn xem Bản-thể-của-Phật là một sự "viên mãn tuyệt đối" và gọi đấy là "ánh sáng trong suốt" biểu trưng bởi một vị thần linh nhằm ứng dụng vào việc luyện tập. Đối với riêng học phái Đại Cứu Cánh (Dzongchen) thì Bản-thể-của-Phật chính là "bản thể đích thật và tự tại của tâm thức" và được gọi là rigpa. Chữ Tây Tạng rigpa có nghĩa từ chương là một "thể dạng tự nhiên hay tự tại", và trong trường hợp nếu được dùng để chỉ định Bản-thể-của-Phật thì chữ này sẽ mang ý nghĩa là "bản chất tự nhiên của sự hiểu biết", tương tự như "hơi nóng là bản chất tự nhiên của lửa" hay "sự ẩm ướt là bản chất tự nhiên của nước". Do đó chữ rigpa cũng được xem như tương đương với các chữ Phạn vidya (sự quán thấy) hay prajna (trí tuệ) là các chữ mang ý nghĩa đối nghịch lại với chữ avidya tức là vô minh, để nói lên bản chất tự nhiên của sự hiểu biết. Đối với học phái Shentong - một trong hai học phái Trung Quán của Tây Tạng - thì Phật-tính hay Bản-thể-của-Phật còn được gọi là Buddhajana tức là Trí-Tuệ-của-Phật. Nói chung các thuật ngữ Tây Tạng dùng để chỉ định Bản-thể-của-Phật rất phong phú và mang nhiều ý nghĩa rõ rệt.
Tóm lại Đại Thừa Phật Giáo qua hàng nhiều trăm năm đã cố gắng phân tích, tìm hiểu và ứng dụng "một điều gì đó" vừa trừu tượng, bao quát lại vừa sâu sắc và rất khó để diễn đạt gọi là Bản-thể-của Phật. Các vị đại sư trong quá khứ đã kế tiếp nhau sáng tạo ra vô số các thuật ngữ quy ước cũng như đã bày ra thật nhiều cách gợi ý nhằm giúp chúng ta nắm bắt một điều gì đó vô cùng "bí ẩn" gọi là Bản-thể-của-Phật. Cái bản thể ấy sở dĩ đã tỏ ra bí ẩn chỉ vì nó không phải là một thứ gì khác thuộc bên ngoài được đem áp đặt thêm cho hiện thực, mà chính là bản chất tự tại bên trong mọi hiện tượng, từ một hạt bụi cho đến cả vũ trụ, kể cả tư duy cũng như xúc cảm trong tâm thức của mỗi con người. Vậy cái bản thể tự tại và cùng khắp ấy của mọi hiện tượng là gì?
Sự cụ thể hóa tánh không
Sau bài thuyết giảng thứ nhất là Bốn Sự Thật Cao Quý (Tứ Diệu Đế), thì ngay sau đó trong bài thuyết giảng thứ hai Đức Phật đã nêu lên khái niệm "không có cái tôi" hay "giáo lý Vô Ngã". Trong suốt bốn mươi lăm năm thuyết giảng Đức Phật tiếp tục triển khai nền móng đó của Đạo Pháp với các cấp bậc khác nhau, và đồng thời Ngài cũng đã thường xuyên giải thích giáo lý "Vô Ngã" bằng mọi cách và dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Thế nhưng khái niệm về tánh không thì chỉ được Đức Phật trực tiếp thuyết giảng cho một số đệ tử thật thân cận, chẳng hạn như Đức Phật đã giảng riêng cho A-nan-đà hai bài Kinh ngắn và Kinh dài về Tánh Không (Culasunnata-sutta và Mahasunnata-sutta - Trung A Hàm 121, 122). Ngoài ra một đôi lần Ngài cũng có nêu lên cho hai người đệ tử là Xá Lợi Phất và A-nan-đà biết rằng Ngài luôn thường trú trong cõi tánh không tuyệt đối và tối thượng ấy. Trong bài Kinh ngắn về Tánh Không có một đoạn như sau:
- "Bạch Thế Tôn, có lần Ngài ngụ ở thị trấn Nagaraka thuộc xứ của dân Sakka. Vào dịp ấy và trước mặt Ngài tôi đã được nghe chính Ngài nói lên như thế này: 'Này A-nan-đà, Ta luôn an trú trong tánh không, và đang trong lúc này thì Ta lại càng an trú sâu xa hơn nữa'. Bạch Thế Tôn, tôi nghĩ rằng tôi đã nghe đúng như thế, và hiểu đúng như thế.
Đấng Thế Tôn đáp lại như sau:
- "Quả đúng như thế, này A-nan-đà, những gì ngươi đã được nghe thấy đúng là như thế; những gì ngươi hiểu được cũng đúng là như thế. Đang trong lúc này, và cũng tương tự như trước đây Ta từng an trú trong tánh không thì nay Ta lại càng an trú sâu xa hơn nữa trong tánh không. Cũng chẳng khác gì như gian tịnh xá này do Migâra-Matâ xây cất hoàn toàn trống không, không có một con voi nào, không có một con bò cái nào, không có một con ngựa đực nào, không có một con ngựa cái nào, không có vàng cũng chẳng có bạc, hoàn toàn trống không, chẳng có đám đàn ông hay đàn bà nào tụ tập. Gian tịnh xá chỉ duy nhất không-trống-không về cái đặc tính độc nhất [của nó] thiết lập bởi tập thể Tăng Đoàn."
Đoạn trích dẫn trên đây cho thấy là A-nan-đà vẫn áy náy không biết những gì mình được nghe có đúng như thế hay không. Áy náy tức là còn có một cái gì đó mà mình không hoặc chưa hiểu hết. Tuy nhiên A-nan-đà vẫn cứ thuật lại sự thắc mắc của mình vào dịp kết tập Đạo Pháp lần thứ nhất được tổ chức một năm sau khi Đức Phật tịch diệt. Sự thắc mắc ấy đã được truyền khẩu gần bốn trăm năm trước khi được ghi lại bằng chữ viết trên những tờ lá bối vào thế kỷ thứ I trước Tây lịch ở Tích Lan.
Có thể A-nan-đà cũng muốn thấu hiểu tường tận hơn ý nghĩa của tánh không là gì nên mới nêu lên với Đức Phật thắc mắc của mình như trên đây, thế nhưng Đức Phật chỉ nói với A-nan-đà rằng Ngài luôn thường trú trong cái tánh không ấy và cho A-nan-đà biết là sự thường trú ấy cũng tương tự như cảm nhận được gian tịnh xá trống không, ngôi làng trống không, khu rừng trống không, không gian trống không, tri thức trống không, hư vô trống không, đấy là một sự cảm-nhận không-cảm-nhận, một sự cảm-nhận không hướng vào một chủ đích hay đối tượng nào cả. Đức Phật không hề "mổ xẻ" cái tánh không đó trên mặt trí thức để giải thích cho A-nan-đà mà chỉ cho biết đấy là một thể dạng hay một kinh nghiệm cảm nhận mà thôi. Nếu nói theo D.T. Suzuki thì sự "cảm nhận phi-đối-tượng" ấy cho thấy Đức Phật đã hội nhập và đã trở thành MỘT với cái tri thức trống không tuyệt đối và tối thượng bên trong của chính Ngài.
Thế nhưng nếu thuyết phục một người tu tập bình dị như chúng ta hãy cứ hội nhập với cái tri thức trống không của chính mình và để trở thành MỘT với nó thì quả rất khó, bởi vì nếu không hiểu được tánh không là một phương tiện mang lại sự giải thoát mà chỉ nhìn thấy khía cạnh tiêu cực tức là sự trống không của nó, thì nhất định sẽ khiến cho chúng ta khó tránh khỏi phải sợ hãi. Dù cho không sợ hãi đi nữa thì chúng ta cũng có thể sẽ cảm thấy hoang mang và lo lắng, bởi vì chúng ta không đủ khả năng để cảm nhận được sự trống không tự tại ấy trong tâm thức của chính mình, mà lại xem nó như là một đối tượng bên ngoài để hội nhập vào đấy, tương tự như phải nhảy vào một cái hố trống không và sâu thẳm. Có thể cũng vì lý do đó mà các vị đại sư trong quá khứ thuộc các tông phái và học phái khác nhau đã cố gắng tìm đủ mọi cách để lấp đầy cái hố ấy, nói cách khác là cụ thể hóa "điều bí ẩn" ấy, tức là cái MỘT trong bài viết của D.T. Suzuki hay cái "tánh không tuyệt đối và tối thượng" nêu lên trong bài Kinh ngắn về Tánh Không, nhằm để biến nó trở thành một cái gì đó mang tính cách "tích cực" hơn. Nói một cách khác là khoác lên cho tánh không một chiếc áo mới dễ nhận thấy và nắm bắt hơn cho một số người tu tập. Chiếc áo ấy có thể mang tên là Bản-thể-của-Phật, Như Lai Tạng, Phật Tính, Chân Như, Hiện Thức, v.v... Triết học Tây Phương gọi phương pháp này là cách "vật thể hóa" (chosification, reification, objectification...) các khái niệm trừu tượng.
Sau đây là một thí dụ khác về cách "vật thể hóa" khái niệm Bản-thể-của-Phật, tìm thấy trong Như Lai Tạng Kinh (Tathagatagharbha-sutra) và trong tập Bảo Tính Luận (Uttaratantra-sastra còn gọi là Ratnagotravibhaga) là hai trong số các văn bản nòng cốt đưa đến sự hình thành của Kim Cương Thừa, đấy là chín phương cách so sánh Bản-thể-của-Phật nhằm biến nó trở thành cụ thể hơn:
Bản-thể-của-Phật (Tathagatagarbha) tương tự như:
1- Một pho tượng Phật bên trong một đoá hoa sen héo úa
2- Mật ngọt giữa một bầy ong
3- Một hạt giống bên trong chiếc vỏ cứng
4- Vàng ròng dấu trong đống rác
5- Một kho tàng chôn kín dưới mặt đất
6- Một mầm cây bên trong hoa quả
7- Một pho tượng Phật trong đống giẻ rách
8- Một vị lãnh đạo tương lai trong bụng của một phụ nữ xấu xí và nghèo nàn.
9- Một pho tượng bằng kim loại quý bên trong một một khối đất sét.
Pho tượng Phật, mật ngọt hay vàng ròng... chính là cái "tánh không tuyệt đối và tối thượng " nằm bên trong mọi hiện tượng hư ảo và vô thường trong thế giới, từ một hạt bụi cho đến toàn thể vũ trụ.
Thật vậy nếu bảo một người nào đó hãy chuyên cần tu tập để đạt được thể dạng "tánh không tuyệt đối và tối thượng" hay "tánh không của tánh không" thì nhất định sẽ rất khó để chinh phục họ bởi vì có thể họ sẽ không hiểu đấy là gì. Thế nhưng nếu bảo họ là sẽ đạt được Bản-thể-của-Phật hay Phật Tính hầu giúp họ trở thành Phật thì may ra có thể thuyết phục họ dễ dàng hơn.

Bures-Sur-Yvette,11.12.12

Hoang Phong chuyển ngữ