![]() |
| Sukara - maddava là thịt lợn loại cao cấp, trong lứa vừa phải, không quá già mà cũng không quá non, mềm và được phục vụ ngoài thị thành cho mọi người tiêu dùng... |
Trong Tam tạng Thái Lan và Miến Ðiện (đã dịch sang tiếng Anh) thì danh từ sukara-maddava được dịch là "thịt heo mềm".
Danh từ "Sukara-Maddava" xuất hiện
mười hai lần trong toàn bộ Tam tạng Kinh điển tiếng Pàli. Từ này được
gặp sáu lần trong kinh Ðại Bát Níp-bàn (Mahaparinibbana sutta) thuộc
tạng kinh Trường bộ (Dìgha Nikàya) và sáu lần nữa trong kinh Cunda
(Cunda sutta) thuộc kinh tạng Tiểu bộ (Khuddaka Nikàya). Hai kinh văn
này đề cập cùng một sự kiện là gia chủ Cunda, một thợ vàng giàu sang mời
và cúng dường Ðức Phật tổ Gotama món sukara-maddava. Thực phẩm này là
bữa ăn cuối cùng của Ðức Phật trước khi ngài nhập vô dư Níp-bàn
(Mahaparinibbana).
Gần đây, có người đã dịch danh từ
sukara-madava thành "một loại nấm mà lợn thích ăn" hay "một loại nấm mọc
dưới đất bị lợn dẫm chân" hay "một loại nấm mọc ở nơi mà heo ở". Không
biết chính xác ai là người đầu tiên đã dịch danh từ này như thế, nhưng
tin chắc là bản dịch này sẽ được những người ăn chay hoàn toàn ủng hộ.
Từ rất lâu họ đã thể hiện nhiều phương pháp khác nhau để chứng minh Ðức
Phật ăn chay. Bản dịch này nên thẩm xét lại kỹ hơn.
Trong quyển kinh chú giải Trường bộ
(Sumaígalavilasini) của trưởng lão Buddhaghosa viết rằng những gì được
gọi là sukara-maddava là "thịt lợn loại cao cấp, trong lứa vừa phải -
không quá già mà cũng không quá non - mềm và được phục vụ ngoài thị
thành cho mọi người tiêu dùng (pavattamamsa)". Trưởng lão Dhammapala,
tác giả quyển chú giải Paramatthadipani thuộc Tiểu bộ kinh, có cùng quan
niệm như vậy. Ngoài ra trưởng lão Buddhadatta viết quyển
Mathuratthavilasini - chú giải bộ Buddhavamsa (Phật sử) thuộc Tiểu bộ -
cũng tuyên bố rằng một trong ba mươi điểm tương đồng của chư vị Chánh
Ðẳng Chánh Giác (sammasambuddhasa) là: bữa ăn cuối cùng của ngài trước
khi Níp-bàn là "thịt thú vật" (parinibbànadivasemaư sarasa-bhojanaư).
Trong Tam tạng Thái Lan và Miến Ðiện (đã dịch sang tiếng Anh) thì danh
từ sukara-maddava được dịch là "thịt heo mềm".
Nếu nguồn gốc của từ ngữ đã được thẩm
định, thì giá trị của bản dịch không nên nghi ngờ nữa. Thuật ngữ
sukara-maddava được phân chia làm hai từ: "sukara" và "maddava". Trong
từ điển Pàli được biên soạn do Robert Caesar Childers, và trong quyển
thuật ngữ Pàli do Dines Anderson biên soạn, cũng như trong quyển
Pàli-Anh, do trưởng lão Buddhadatta biên soạn thì danh từ sukara được
dịch là "lợn" mà tính từ maddava được dịch là "mềm". Như vậy căn cứ vào
nguồn gốc của từ ngữ, thuật ngữ sukara-maddava thật sự không có liên hệ
gì đến bất kỳ loài "nấm" nào cả.
Cũng nên biết rằng, gia chủ Cunda là
một Phật tử. Ông biết Ðức Phật Gotama sức khỏe bị suy yếu. Ông cố ý nấu
món sukara-maddava này, với lòng mong muốn là món ăn này sẽ gia tăng sức
khỏe cho ngài. Cunda lẽ nào dám liều cúng dường bậc đạo sư một món nấm,
mà đã biết rằng là "có thể" nguy hại, và theo như các nhà dinh dưỡng
học, có thể gây sự yếu ớt, nhiều độc tố và lẫn cái chết nữa. Vả lại, nấm
là thực phẩm có rất ít chất dinh dưỡng để sử dụng cho việc tăng lực.
Nói một cách khác, nấm không có nhiều chất dinh dưỡng bằng bắp cải, cho
nên rất dại khờ mới nghĩ rằng nó sẽ làm gia tăng sức khỏe. Cũng nên biết
rằng, cái chết của Ðức Phật thật sự không phải chết vì dùng sukara,
thịt lợn (sukara-maddava), do gia chủ Cunda cúng dường - như nhiều người
lầm tưởng - mà vì cơ thể của ngài đã cạn kiệt và vì cuộc đời của Thế
Tôn đến lúc phải ra đi. Ba tháng trước, ngài đã quyết định nhập diệt vào
ngày trăng tròn tháng tư âm lịch (vesakha). Sự việc này như đã được ghi
lại trong kinh Ðại Níp bàn (Mahàparinibbàna) và kinh Cunda, Ðức Phật
Gotama không bao giờ nói rằng thịt lợn (sukara-maddava) do gia chủ Cunda
cúng có độc tố. Ngài chỉ nói là trong thế giới này không có ai dù là Bà
la môn, đạo sĩ, trời, ma vương hay Phạm thiên nào có thể tiêu hóa
(jirapeti) thực phẩm đó, ngoại trừ Như Lai. Ngài Nagasena và Buddhaghosa
đã chú giải là khi thịt lợn (sukara-maddava) được nấu, có nhiều vị chư
thiên thêm gia vị cực bổ vào, lý do là các vị nghĩ rằng đây là bữa cơm
cuối cùng của Ðức Phật Gotama. Nhận biết được điều này, Ðức Phật gọi gia
chủ Cunda đừng có cúng dường món thịt lợn chứa gia vị cực bổ này cho
chư Tỳ khưu tháp tùng theo ngài, bởi vì nó có lẽ "quá liều" đối với chư
vị mà chỉ có đức Như Lai mới có thể thọ dụng được. Như vậy việc dịch
thuật ngữ sukara-maddava thành nấm và đoán chừng rằng cái chết của Ðức
Phật là do độc tố của nấm thì thật sự không đúng.
Ðiều này thực sự không quan trọng và
người Phật tử không nên sử dụng vấn đề này để tranh luận. Cho dù
"sukara-maddava" có thật sự là nấm hay không, thì không thể nào sử dụng
thuật ngữ trên để làm cứ điểm cho việc biện hộ ăn chay. Loại thực phẩm
mà Ðức Phật dùng không thể dựa vào bữa ăn cuối cùng của Ðức Thế Tôn.
Nhiều nguồn kinh điển Tam tạng quả quyết cho là Ðức Phật đã có thái độ
của ngài về việc ăn chay và ngài đã áp dụng ăn chay cho chư vị đệ tử.
Sanjivaputta

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét