![]() |
| Nếu không chịu chặt cây ái dục thì cành lá ái dục ít nhiều vẫn còn phát sinh. Tâm còn vướng vào ái dục thì người ta vẫn còn như một con bê phải luôn luôn cần đến vú mẹ. |
Là người tu đạo, ta không nên đi về
hướng ái dục. Phải bắt đầu bằng cách tìm diệt tận gốc cái cây ái dục để
cho những cái rễ của nó không còn có thể đâm chồi lên được. Đừng làm như
cắt cỏ lau, để sau khi được cắt rồi lau lại mọc lên như cũ.
Kinh "Chiếc lưới ái ân" được dịch từ
kinh Pháp Cú, Hán Tạng. Chữ "ái ân" nằm ngay trong bài kệ thứ ba của
kinh, câu “Nhân vi ân ái hoặc”. Trong kinh có sử dụng hình ảnh chiếc
lưới để ví với sự mất tự do của một người khi bị vướng vào ái dục. Chữ
lưới được lặp lại hai lần (ái võng và dục võng), vì vậy ý niệm về chiếc
lưới thấy rất rõ trong kinh. Mới đọc qua kinh chúng ta có cảm tưởng kinh
được dạy riêng cho người xuất gia, nhưng nghiên cứu kỹ chúng ta thấy
những người tại gia cũng có thể thừa hưởng rất nhiều từ kinh này. Những
người tại gia, dù sống đời sống lứa đôi, dù đã có vợ, có chồng nhưng vẫn
có thể bị sa vào lưới ân ái rồi gây khổ đau và làm tan nát gia đình của
mình và gia đình người khác.
Đứng về phương diện hành trì thì người
xuất gia dễ thực tập hơn người tại gia, tại vì người xuất gia sống
trong một môi trường rất thuận lợi cho sự thực tập. Những vị xuất gia
tại Làng Mai vì không xem truyền hình, không đọc tiểu thuyết tình cảm
nên không thấy những hình ảnh khêu khợi ái dục trong phim ảnh hay sách
báo, do đó hạt giống ái dục không bị tưới tẩm. Trong khi đó, người tại
gia sống ngoài đời, phải tiếp xúc, chung đụng, lại không có những giới
luật và uy nghi bảo hộ nên những hạt giống của ái dục rất dễ bị tưới
tẩm. Đứng về phương diện đó mà nói thì tu tại gia và tu chợ khó hơn tu
chùa. Con đường xuất gia vốn là con đường dễ nhất, còn hành trì với tính
cách cư sĩ thì khó hơn. Vì vậy, ban đầu Đức Thế Tôn có ý dạy kinh này
cho những người xuất gia nhưng những người tại gia cũng phải nên học.
Các thầy, các sư cô có trách nhiệm
dịch kinh ra tiếng Anh và tiếng Pháp hơi băn khoăn, không biết nên dịch
chữ “ái dục” như thế nào. Mình có thể dịch chữ ái là love. Ái không phải
chỉ là tình cảm giữa nam và nữ mà nó còn có nghĩa khác là lòng nhân ái,
là tình người, tình yêu nhân loại. Yêu nước là ái quốc. Ái nhân như ái
thân (thương người như thể thương thân). Chữ ái không có nghĩa là vướng
mắc mà có nghĩa là thương yêu.
Chữ dục đứng riêng thì có nghĩa là
khao khát, thèm muốn, mình có thể dịch là desire. Khi hai chữ đứng riêng
ra thì rất dễ dịch: một bên là tình thương (ái) và một bên là ham muốn
(dục). Nhưng khi gộp hai chữ lại thành chữ ái dục thì hơi khó dịch tại
vì trong ái có dục. Giới thứ ba của Năm Giới có nói: Tình yêu và tình
dục là hai cái khác nhau. Khi văn bản của Năm giới tân tu đưa ra thì đã
nhận được sự phản ứng rất thuận lợi của các bạn Tây phương. Các bạn chấp
nhận một cách dễ dàng câu: Tình yêu và tình dục là hai cái khác nhau.
Tên của kinh, trong nguyên văn là Ái
Dục Phẩm, mình có thể dịch là “Sensual love”, “L’amour sensuel”. Ở Tây
phương có thứ tình yêu gọi là tình yêu suông (amour platonique) tức là
tình yêu không có sự chung đụng xác thịt. Thi sĩ Pháp Félix Arvers có
làm một bài thơ rất nổi tiếng tên “Sonnet d’Arvers “ nói về tình yêu
không có xác thịt:
Lòng ta chôn một khối tình
Tình trong giây phút mà thành thiên thâu
Tình tuyệt vọng nỗi thảm sầu
Mà người gieo thảm như hầu không hay
Đọc bài thơ của thi sĩ Arvers ta thấy
trong đó chất chứa một khối khổ đau. Mình yêu người đó nhưng người đó
không biết và mình vẫn cứ âm thầm yêu. Yêu mà mang một nỗi thảm sầu thì
tình yêu ấy chẳng vui vẻ, hạnh phúc gì. Tình yêu suông (l’amour
platonique ) cũng đem lại biết bao nhiêu khổ đau, vì trong đó có sự
vướng mắc, vướng vào đó thì mình cũng đánh mất tự do, tình yêu ấy không
nằm trong tứ vô lượng tâm (từ, bi, hỷ và xả).
Hỡi ơi người đó ta đây
Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân?
Dẫu ta đi trọn đường trần
Chuyện riêng dễ dám một lần hé môi
Người dù ngọc nói hoa cười
Nhìn ta như thể nhìn người không quen.
Đường đời lặng lẽ bước tiên
Ngờ đâu chân đạp lên trên mối tình.
Một niềm tiết liệt đoan trinh
Xem thơ nào biết có mình ở trong.
Lạnh lùng lòng sẽ hỏi lòng:
Người đâu tả ở mấy dòng thơ đây?
Người dịch bài thơ này là nhà văn Khái
Hưng. Bài thơ của Félix Arvers rất nổi tiếng, người Pháp hầu như ai
cũng thuộc bài thơ này. Thi sĩ sống vào nửa đầu thế kỷ thứ 19 và làm bài
thơ này lúc 25 tuổi. Dưới đây là nguyên văn tiếng Pháp của bài thơ:
Mon âme a son secret, ma vie a son mystère
Un amour éternel en un moment conçu:
Le mal est sans espoir, aussi j'ai dû le taire,
Et celle qui l'a fait n'en a jamais rien su.
Hélas! j'aurai passé près d'elle inaperçu,
Toujours à ses côtés et pourtant solitaire;
Et j'aurai jusqu'au bout fait mon temps sur la terre,
N'osant rien demander et n'ayant rien reçu.
Pour elle, quoique Dieu l'ait faite douce et tendre,
Elle ira son chemin, distraite et sans entendre
Ce murmure d'amour élevé sur ses pas.
l'austère devoir pieusement fidèle,
Elle dira, lisant ces vers tout remplis d'elle:
"Quelle est donc cette femme ?" Et ne comprendra pas!
Bản kinh mà chúng ta đang học được
trích trong Kinh Pháp Cú Hán Tạng. Kinh Pháp Cú Hán Tạng là kinh số 210
trong Đại Tạng Taisho, có tất cả 39 phẩm và 752 bài kệ. Kinh Pháp Tập
Yếu Tụng là kinh số 213 trong Đại Tạng Tân Tu và có 32 phẩm. Cuối cùng
chúng ta có Dhammapada (Kinh Pháp Cú) của tạng Pali, có 26 phẩm và 403
bài kệ. Kinh Pháp Cú Hán Tạng được dịch vào thế kỷ thứ ba, Kinh Pháp Tập
Yếu Tụng được dịch vào thế kỷ thứ mười nên kinh trước có sớm hơn kinh
sau khoảng 700 năm.
Chúng ta có ba kinh nói về ái dục, một
kinh bằng tiếng Pali và hai kinh bằng chữ Hán. Khi nghiên cứu ba kinh
tôi thấy bài kinh trong kinh Pháp Cú Hán Tạng là hay nhất. Kinh được
dịch vào khoảng năm 225 tức nửa đầu của thế kỷ thứ ba. Phẩm Ái Dục còn
có trong kinh Pháp Tập Yếu Tụng, hình như được dịch vào thế kỷ thứ 10,
lời văn chải chuốt hơn nhưng không hay và không đầy đủ bằng bản trước.
Bản văn chúng ta đang học hay hơn cả bản văn trong tạng Pali nên tôi
chọn bản này. Khi học, có thể quý vị sẽ thích thú khi so sánh bản văn
này với bản văn tạng Pali và với phẩm Ái Dục của Kinh Pháp Tập Yếu Tụng.
Chúng ta hãy cùng đọc bản văn bằng tiếng Việt:
1. Tâm ý đi về hướng ái dục thì cây
ái dục sẽ đâm chồi trổ nhánh rất mau. Tâm ý phân tán vì đối tượng ái
dục sẽ làm cho lửa ái dục bừng cháy trong ta. Kẻ đi tìm ái dục cũng
giống như một con vượn chuyền cành tìm trái, từ cành này sang cành khác.
2. Ái dục buộc mình phải gánh chịu
khổ đau. Ái dục làm cho mình bị vướng mắc vào cuộc sống trần tục. Những
lo lắng và hoạn nạn do ái dục đưa tới cứ tăng trưởng đêm ngày, mọc kín
như cỏ tranh.
3. Bị ái ân mê hoặc người ta sớm
muộn gì cũng sẽ bị vướng vào dục tình. Cái lo lắng kia càng ngày càng
lớn, giống như dòng nước rỉ, rỉ mãi cũng đầy hồ.
4. Ở đời có nhiều thứ lo lắng và
đau buồn, nhưng không có thứ lo buồn nào lớn hơn cái lo buồn do ái dục
đem lại. Buông bỏ được ái dục mới hết lo buồn.
5. Muốn tâm ý được an vui thì phải
quyết tâm dứt bỏ ái ân. Không ân ái thì không còn phải đi vòng quanh
trong cõi luân hồi, không còn phải mang nặng ưu tư, không còn thấp thỏm
mong cầu những gì ô nhiễm. Không còn ái nhiễm thì sẽ được thực sự an
vui.
6. Ân ái thâm trọng thì đến giờ lâm
chung, bao quanh bởi những người thân thuộc, sẽ thấy con đường của lo
lắng và sầu khổ dài như thế nào. Cái khổ do ân ái gây nên thường đưa ta
tới những hoàn cảnh không an toàn, đầy tai ách.
7. Là người tu đạo, ta không nên đi
về hướng ái dục. Phải bắt đầu bằng cách tìm diệt tận gốc cái cây ái dục
để cho những cái rễ của nó không còn có thể đâm chồi lên được. Đừng làm
như cắt cỏ lau, để sau khi được cắt rồi lau lại mọc lên như cũ.
8. Gốc cây ái dục sâu và vững. Tuy
cây đã bị đốn, nhưng cành lá vẫn có thể sinh ra trở lại. Tâm ái dục chưa
dứt trừ thì theo lẽ thường cái khổ do ái dục đem tới vẫn còn trở lại
như thường.
9. Như con vượn nhảy ra khỏi cây
này thì lại nhảy vào cây khác, người đời cũng thế, ra khỏi được một ngục
tù ái dục này rồi lại lao mình vào một ngục tù ái dục khác.
10. Tâm ái dục là một dòng chảy
thường xuôi theo dòng tập khí và dòng kiêu mạn. Những tư duy và nhận
thức của ta đều có thể được tô điểm theo màu sắc ái dục và do đó chính
mình tự che lấp sự thật và không thấy được sự thật.
11. Dòng suối tâm ý ấy cứ mặc tình
trôi chảy khiến cho những nút thắt ái dục đan kết lại với nhau chằng
chịt. Chỉ có tuệ giác chân thực mới có khả năng phân biệt và thấy rõ
được đìều này và giúp ta đoạn trừ được căn nguyên của nó nơi tâm ý.
12. Dòng suối ái dục thấm vào tư
duy và nhận thức để lớn mạnh và quấn vào nhau. Nguồn suối ái dục sâu
không đáy kia làm cho cái già và cái chết tăng trưởng một cách rất mau
chóng.
13. Những cành nhánh của cây ái
dục cứ tiếp tục sinh trưởng không dừng nghỉ cũng bởi vì chúng được nuôi
dưỡng bằng thực phẩm ái dục. Thực phẩm này nuôi dưỡng oán hận, un thành
gò thành đống. Người thiếu trí tuệ thì cứ nôn nóng đi về hướng ấy.
14. Trong ngục thất có gông có
cùm, nhưng người có trí tuệ không thấy những dụng cụ này là thứ gông cùm
vững chắc nhất. Cái loại gông cùm ái nhiễm cột người ta vào vòng hệ lụy
mới thật là loại gông cùm kiên cố.
15. Người có trí tuệ thấy ái dục
là một thứ ngục tù kiên cố, khó thoát ra khỏi. Người ấy biết rõ rằng
phải đoạn trừ ái dục thì mới thực sự được an vui.
16. Thấy sắc mà bị mê hoặc đó là
vì không biết quán vô thường. Kẻ u mê tưởng rằng cái sắc ấy là một cái
gì lành và đẹp, không biết rằng cái bóng dáng bên ngoài kia không chứa
đựng được một cái gì bền bỉ chắc thật bên trong nó.
17. Tự nhốt mình trong sắc dục thì
cũng như con tằm kéo chiếc kén để tự mình giam hãm lấy mình. Bậc trí
giả có khả năng đoạn trừ và buông bỏ dục tưởng, không thiết tha gì đến
những đối tượng ái dục, cho nên mới tránh thoát khỏi mọi khổ nạn.
18. Kẻ có tâm ý phóng đãng khi
nhìn vào một đối tượng ái dục thì có thể cho đó là một cái gì tinh
khiết, không biết rằng sự tăng trưởng lớn mạnh của ái ân sẽ đem tới bao
nhiêu hệ lụy tù ngục sau này.
19. Những ai thực tập chánh niệm
sẽ có khả năng thấy được rằng cái đối tượng của ái dục kia là bất tịnh,
do đó diệt trừ được dục ý, ra khỏi ngục tù và thoát khỏi tai nạn già và
chết.
20-21. Tự quấn lấy mình trong chiếc
lưới ái dục, tự che mình bằng chiếc dù ái dục là tự trói mình trong vòng
hệ lụy như con cá tự chui vào trong một chiếc nơm, bị cái già và cái
chết bắt theo và luẩn quẩn bên cạnh đối tượng ấy như một con bê đi tìm
vú mẹ. Lìa bỏ được dục, không đi theo vết xe của ái, thì có thể vượt
thoát ra ngoài chiếc lưới ái ân, không còn bị bất cứ một cái gì làm hại
nữa.
22. Đi trọn được con đường, cởi bỏ
được mọi ràng buộc hệ lụy, giải phóng được mọi phân biệt kỳ thị, vượt
qua được các ý niệm lưỡng nguyên, đó mới thật là bậc xuất sĩ đại trí.
23. Đừng thân cận với những kẻ đi
ngược chánh pháp cũng đừng bị lôi kéo theo con đường ái nhiễm. Nếu chưa
vượt thoát được thời gian, thì hành giả vẫn còn bị kẹt vào cái thấy nhị
nguyên.
24. Thấy và hiểu được tự tánh các
pháp, không còn bị vướng vào một pháp nào, biết cách gỡ ra được mọi sợi
dây ái dục trong tâm ý, như thế là đã nắm được ý chỉ của Bụt.
25. Trong các thứ hiến tặng, hiến
tặng chánh pháp là quý hơn cả. Trong các mùi hương, hương đạo đức là
thơm tho hơn hết. Trong các thứ hạnh phúc, được sống trong chánh pháp là
hạnh phúc lớn nhất. Không có phương pháp nào chiến thắng được khổ đau
một cách tận cùng bằng sự thực tập chấm dứt ái dục.
26-27. Người u mê thường lấy sợi dây
tham dục để tự trói mình. Người ấy chưa có ước mong vượt sang bờ bên
kia. Tham dục gây bại hoại, đem lại tai họa cho mình và cho kẻ khác. Tâm
tham dục là ruộng đất, tham sân si là hạt giống. Đối với người có khả
năng bố thí và độ đời thì những phúc đức thu hoạch được không thể đo
lường.
28. Người đồng hành thì ít, hàng
hóa chuyên chở thì nhiều, kẻ thương nhân lâm vào trạng thái lo lắng kinh
sợ. Biết rằng cái đam mê dục lạc là tên giặc, có thể làm tổn hại thân
mạng của mình, bậc trí giả không còn chạy theo tham dục.
29. Năm thứ tham dục phát sinh khi
tâm mình cảm thấy có sự khả ý. Mau chóng chấm dứt được cả năm thứ tham
dục, đó mới thật là người dũng sĩ.
30. Hết tham dục thì không còn sợ
hãi. Lúc ấy ta mới được thảnh thơi an lạc. Dục hết thì kiết sử cũng hết,
do đó hành giả ra khỏi được vực sâu.
31. Này ái dục ta ơi, ta biết gốc
gác của mi rồi: Dục ý là từ ước muốn và nhận thức sai lầm mà phát khởi.
Nay ta không còn ước muốn và nhận thức sai lầm về mi thì làm sao mi còn
có thể phát sinh?
32. Đốn cây ái dục mà không tận
gốc thì cây ái dục sẽ mọc trở lại. Đốn cây ái dục mà tận gốc thì vị xuất
sĩ đạt tới Niết Bàn.
33. Nếu không chịu chặt cây ái dục
thì cành lá ái dục ít nhiều vẫn còn phát sinh. Tâm còn vướng vào ái dục
thì người ta vẫn còn như một con bê phải luôn luôn cần đến vú mẹ.
Trong bài kệ 26 có câu: Người u mê
thường lấy sợi dây tham dục để tự trói mình và trong bài kệ thứ 20 nói:
Mình tự quấn lấy mình trong chiếc lưới ái dục. Không phải người khác tới
bắt mình nhốt vào mà chính mình tự nhốt mình. Trong kinh có sử dụng
hình ảnh con cá tự chui vào trong chiếc nơm, con tằm tự kéo kén để nằm
trong đó. Cái nơm nhốt con cá, chiếc kén giam hãm con tằm. Đó là do
chính mình làm ra, đó là vì mình muốn như vậy chứ không ai bắt ép mình.
Trong Truyện Kiều, lúc sư Giác Duyên
tham vấn với đạo cô Tam Hợp để hỏi về tương lai của Kiều thì đạo cô nói
rằng Kiều sẽ còn phải khổ đau nhiều lắm tại vì Kiều còn vướng vào lưới
tình. Đạo cô nói:
Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan
Vô duyên là phận hồng nhan đã đành.
Lại mang lấy một chữ tình
Khăng khăng mình buộc lấy mình vào trong.
Vậy nên những chốn thong dong
Ở không yên ổn ngồi không vững vàng.
Ma đưa lối quỷ dẫn đàng
Lại tìm những chốn đoạn tràng mà đi.
Kinh nói rất rõ: tại mình chứ không
phải tại người khác. Trong đạo Bụt, Bụt dạy rất nhiều về vấn đề thương
yêu. Chúng ta đã có một cuốn sách tựa là “Teaching on love” (Bụt dạy
thương yêu). Thương yêu có thể đem lại rất nhiều hạnh phúc và bình an
cho con người. Nhưng thương yêu và ái dục có khác nhau, thương như thế
nào để đừng làm ra một chiếc lưới tự nhốt mình và nhốt người kia, thương
như thế nào để đừng gây khổ đau cho mình và cho người kia. Thương như
vậy mới đúng là thương, cho nên Tứ Vô Lượng Tâm là con đường thương yêu
của Bụt dạy mà mình phải học.
Trong phòng khách của chùa Tây Thiên ở Huế có một câu đối, trong đó các thầy dùng chữ rất táo bạo:
Bất tục tức tiên cốt 不 俗 即 仙 骨
Đa tình thị Phật tâm 多 情 是 佛 心
Bất tục tức tiên cốt: Bất tục là không
có trần tục 俗. Cốt là xương, người có cốt của tiên thì nhẹ nhàng, không
có tục lụy, không có cái thô tháo của trần tục. Xương của tiên không có
mùi tục lụy, nếu muốn làm tiên thì phải rời xa tục lụy.
Đa tình thị Phật tâm: Trái tim của Bụt
có rất nhiều tình (đa tình). Tình mà Bụt dạy là cái tình rộng lớn. Câu
đối này nói Bụt là một người đa tình, tức Bụt là người có tình thương
rất lớn. Nhờ có tình thương lớn nên Bụt mới ôm trọn được thế gian. Tâm
bảo thái hư là tấm lòng ôm trọn cả thế gian.
Chúng ta là con cháu của tổ Lâm Tế. Tổ
dạy, hễ là con người thì mình có thể thành Bụt, người nào cũng có thể
thành Bụt. Nhưng khi thành Bụt rồi mình vẫn tiếp tục được làm người, có
nghĩa là thành Bụt rồi thì không phải là hết được làm người, mình vẫn là
một con người. Điều kiện tiên quyết để thành Bụt là phải là một con
người, cho nên chúng ta có giáo lý : Phật sanh bất nhị (the non duality
of Buddhas and human beings).
Đã là con người thì phải có hạt giống
của tình dục. Con người được làm bằng năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành,
thức), con người có hình hài, có cảm thọ. Nếu nhìn Bụt như một con người
(sách “Đường xưa mây trắng” giúp chúng ta nhìn Bụt như một con người mà
không phải là một vị thần linh) thì chúng ta thấy rõ là trong con người
của Bụt cũng có hạt giống của tình dục. Bụt đi xuất gia năm 29 tuổi và
thành đạo năm 35 tuổi, mới có 35 tuổi là còn rất trẻ nên năng lượng tình
dục vẫn còn trong con người đó. Bụt vẫn còn là con người như mình.
Nhưng tại vì khi thành Bụt rồi thì mình có đủ trí tuệ, có đủ thương yêu,
đủ tinh thần trách nhiệm, đủ tuệ giác cho nên mình biết xử lý năng
lượng tình dục của mình một cách dễ dàng.
Ai nói Bụt không có yêu thương? Bụt
yêu thương rất nhiều, tim Bụt vốn đa tình. Mình phải thấy rằng, hễ là
con ngươì thì có hạt giống của tình dục. Tình yêu phần nào có gốc rễ
trong tình dục, chúng ta phải công nhận chuyện đó. Sự khao khát có cơ
hội để thương yêu và được thương yêu có mặt trong tất cả mọi người chúng
ta. Tu tập không phải là để quét sạch, để lấy đi hết những thứ đó; lấy
đi hết những thứ đó thì mình không còn là con người nữa. Mình tu tập là
để có đủ khả năng đối phó với những thứ đó, cười với nó khiến nó không
làm gì được mình. Hễ là con người, có một hình hài thì còn những hạt
giống tình dục. Thỉnh thoảng khi nó trở về, mình có chánh niệm có tuệ
giác, mình mỉm cười với nó và mình được tiếp tục làm người. Bụt đã thành
Phật rồi mà vẫn tiếp tục làm một con người, vì vậy mình mới tới được
gần Bụt. Nếu Bụt là một vị thần linh thì làm sao mình tới gần được? Và
nếu Bụt xử lý được năng lượng tình dục thì mình làm cũng được như Bụt.
Khi đã chọn con đường xuất gia thì
mình phải khép lại cánh cửa ái ân. Như vậy không có nghĩa là mình cho ái
ân là một tội ác, nhưng tại vì có nhiều con đường và mình đã chọn một
con đường, con đường đó là con đường thương yêu lớn, con đường thương
yêu của Bụt, con đường không bị hệ lụy. Con đường này không làm mình khổ
và đem lại niềm vui cho rất nhiều người khác. Sau khi lựa chọn rồi thì
mình phải đóng cánh cửa kia lại; mình không thể bắt cá hai tay, vừa muốn
làm cái này lại vừa muốn làm các kia.
Mình thương mẹ, nhưng mình có lý tưởng
xuất gia nên mình phải xuất gia thôi, mình không thể ở nhà để ăn chuối
ba hương, ăn xôi nếp một, ăn đường mía lau. Ở đời luôn luôn phải có sự
chọn lựa, đã chọn lựa rồi thì mình phải đi con đường đó chứ đừng thụt
tới thụt lui để rốt cuộc cũng không đi được tới đâu. Mình có quyền làm
người, Bụt có quyền làm người. Nhờ cách học làm người cho đàng hoàng nên
mình có thể thành Bụt.
Kinh này có những bài kệ rất sâu, mình phải học từ từ.
Đọc kinh cẩn thận, mình thấy Bụt chỉ
cho mình nguồn gốc của ái dục gọi là dục ý 欲 意. Dục ý là cái tâm muốn
đi về hướng đó, khi có dục ý rồi thì mình không còn bình an nữa. Thi sĩ
Xuân Diệu làm một bài thơ bốn câu để giải nghĩa tình yêu là gì:
Làm sao cắt nghĩa được tình yêu?
Có nghĩa gì đâu? Một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu.
Tự nhiên mình có một cảm giác nhớ
nhung và thiếu vắng, đó là định nghĩa của Xuân Diệu về tình yêu. Hễ yêu
là thấy nhớ nhung, thấy thiếu vắng. Mình đổ lỗi tại nắng nhạt, mây nhẹ
và gió hiu hiu, nhưng có người khác đứng cạnh mình, trời cũng có nắng
nhạt, mây nhẹ và gió hiu hiu nhưng người ta có làm sao đâu. Thế nên
trước đó đã có cái gì rồi chứ không phải là tự dưng.
Theo sự phân tích của Bụt thì ban đầu
phải có xúc, sparśa (contact), xúc giữa mắt và hình ảnh, xúc giữa lỗ tai
với âm thanh. Xúc đi với tác ý (attention), manaskara. Tại sao mình
không chú ý tới cái khác mà lại chú ý tới cái đó? Có nhiều loại tác ý,
có loại tác ý có lợi cho sự tu tập của mình như khi nghe tiếng chuông
mình để tâm vào tiếng chuông. Đó gọi là như lý tác ý, để tâm vào tiếng
chuông thì tự nhiên tâm mình lắng lại. Thành ra đối tượng của tác ý
quyết định là mình có bình an hay không có bình an. Mỗi ngày, người tu
phải học như lý tác ý, để tâm tới những cái không làm cho mình mất bình
an. Thọtưởng (samjñā), nó tùy thuộc nơi thọ. Khi tiếp xúc với một cái gì
đó và có một cảm thọ thì tự nhiên mình có tưởng (tri giác). Mình cho
cái đó là xấu hay đẹp, là dễ chịu hay không dễ chịu. Có cảm giác dễ chịu
là có lạc thọ, có cảm giác không dễ chịu là có khổ thọ. Mình tiếp xúc
với một đối tượng và cho đối tượng đó là thường, là lạc, là ngã, là
tịnh. Nếu có chánh niệm và trí tuệ, mình biết đối tượng đó là vô thường
và nó có thể đem lại khổ đau cho mình. Nếu có trí tuệ mình thấy nó là
trống rỗng, nó không có chủ thể bền chắc lâu dài và nó là bất tịnh. Lúc
đó cái tưởng của mình không phải là một vọng tưởng mà là một nhận thức
đúng đắn. Mình sẽ không bị nội kết (internal formation, samyojana). Nội
kết đó gọi là tư, volition (cetana). Tư là một nhớ tưởng, một mong cầu.
(vedanā) là cảm thọ, cảm thọ khó chịu hay dễ chịu. Mình thấy một hình
ảnh, nghe một âm thanh và mình có một tri giác (một nhận thức) về cái
đó. Tri giác đó gọi là
Một tia nắng nhạt, một đám mây nhè
nhẹ, một cơn gió hiu hiu làm cho mình cảm thấy thiếu vắng một cái gì,
mình mong cầu một cái gì đó. Đó gọi là tư, là nhớ mong (cái gì như thể
nhớ mong). Tư do cái tưởng sinh ra. Sau khi có xúc, tác ý và thọ thì
mình có một nhận thức về đối tượng đó. Nếu mình cho đối tượng đó là
tịnh, là lạc, là ngã, là thường thì mình có một nội kết êm ái. Nội kết
êm ái sinh ra tư, cái tư đó là cái thiếu vắng, cái nhớ mong bồn chồn
không quên được. Tư là tư niệm thực tức nguồn thực phẩm thứ ba trong bốn
loại thực phẩm. Tư là nghĩ tới nó và cứ muốn ao ước nó.
Trong kinh này có nói về nội kết, về
tư và về tưởng. Trong bài kệ thứ 31 có nói: Này ái dục ta ơi, ta biết
gốc gác của mi rồi. Dục ý là từ ước muốn và nhận thức sai lầm mà phát
khởi. Chữ ước muốn được dịch từ chữ tư và chữ nhận thức sai lầm được
dịch từ chữ tưởng. Bụt chỉ cho mình rất rõ ràng gốc rễ của ái dục. Vọng
tưởng đưa tới tư niệm, tư niệm làm cho mình thiếu thốn, đau khổ, bất an.
Và tư đưa tới những phiền não như lo lắng, sợ hãi, buồn phiền, giận
hờn, v.v… Với chánh niệm, mình để ý tới xúc, tác ý, thọ và khi đi tới
tưởng mình sẽ không bị vọng tưởng. Mình thấy đối tượng kia là vô thường
có thể đem lại khổ đau, nó không có gì chắc thực ở bên trong và nó là
bất tịnh; lúc đó tự nhiên mình không có vọng tưởng và không có vọng
tưởng thì mình sẽ không có nội kết êm ái, sẽ không bị “mây nhè nhẹ gió
hiu hiu” bắt cóc đi.
Bài kệ 1
Tâm phóng tại dâm hành 心 放 在 婬 行
Dục ái tăng chi điều 欲 愛 增 枝 條
Phân bố sanh sí thạnh 分 布 生 熾 盛
Siêu dược tham quả hầu 超 躍 貪 果 猴
Tâm ý đi về hướng ái dục thì cây ái
dục sẽ đâm chồi trổ nhánh rất mau. Tâm ý phân tán vì đối tượng ái dục sẽ
làm cho lửa ái dục bừng cháy trong ta. Kẻ đi tìm ái dục cũng giống như
một con vượn chuyền cành tìm trái, từ cành này sang cành khác.
Tâm phóng tại dâm hành: Phóng là đi tới. Dâm hành là hướng của ái dục. Tâm ý đi về hướng của ái dục.
Dục ái tăng chi điều: Cây ái dục tăng thêm cành thêm nhánh.
Phân bố sanh sí thạnh: Sí thạnh là cháy bùng lên. Tâm ý phân tán vì đối tượng ái dục sẽ làm cho lửa ái dục bừng cháy trong ta.
Siêu dược tham quả hầu: Tham quả là
ham đi tìm trái cây. Hầu là con khỉ. Con khỉ đi tìm trái cây, nhảy nhót
từ cây này sang cây khác.
Ngay trong bài kệ này chúng ta đã thấy
đây không phải chỉ là giáo lý cho người xuất gia. Người tại gia cũng
rất cần tại vì người tại gia sống trong một hoàn cảnh có rất nhiều cơ
hội bị vướng mắc. Sống trong chùa mình được nhắc nhở, được thực tập và
mình có tăng thân. Còn sống ngoài đời, mình đi tới sở làm gặp gỡ người
này người khác nên có hoàn cảnh kéo người tại gia đi theo rất mau. Mình
đã có vợ, có chồng, có con rồi nhưng mình vẫn bị kéo theo ái dục, mình
vẫn muốn bỏ người này để đi theo người kia. Trong kinh dùng hình ảnh của
một con vượn nhảy từ cành này sang cành khác để tìm trái cây. Nó ăn một
trái rồi nhưng còn thèm nên đi tìm trái khác. Ở ngoài đời chuyện ngoại
tình xảy ra rất nhiều, sự thực tập đối với người cư sĩ còn khó hơn đối
với người xuất sĩ. Cho nên đi xuất gia là con đường dễ nhất và mình đừng
đợi đến lúc già rồi mới xuất gia.
Kinh hay ở chỗ là đưa ra rất nhiều hình ảnh, có trên mười hình ảnh và những hình ảnh tự nó đã nói ra được giáo lý.
Bài kệ 2
Dĩ vi ái nhẫn khổ 以 為 愛 忍 苦
Tham dục trước thế gian 貪 欲 著 世 間
Ưu hoạn nhật dạ trưởng 憂 患 日 夜 長
Diên như mạn thảo sanh 莚 如 蔓 草 生
Ái dục buộc mình phải gánh chịu khổ
đau, ái dục làm cho mình bị vướng mắc vào cuộc sống trần tục. Những lo
lắng và hoạn nạn do ái dục đem tới cứ tăng trưởng đêm ngày, mọc kín như
cỏ tranh.
Bài kệ này cũng để dành cho người cư
sĩ. Các vị xuất gia đừng tưởng ở ngoài đời thì khỏi phải hành trì. Ở
ngoài kia mà không hành trì thì sẽ khổ lắm.
Dĩ vi ái nhẫn khổ: Ái dục buộc mình phải gánh chịu khổ đau.
Nhẫn là chịu đựng, nhẫn khổ là chịu đựng nhiều khổ đau. Trong chúng ta có người đã nếm được vị này.
Tham dục trước thế gian: Vướng mắc vào
vòng ái dục là vướng mắc vào thế giới của trần lụy, không giải thoát
được. Thế gian là cuộc sống trần tục.
Ưu hoạn nhật dạ trưởng: Những lo lắng và hoạn nạn do ái dục đem tới cứ tăng trưởng đêm ngày.
Ưu là lo lắng, hoạn là tai nạn. Đó là
hai cái đi đôi với ái dục. Làm tổng thống như ông Bill Clinton hay ông
Sarkozy cũng khổ vì ái dục. Bên Do Thái có một vị tổng thống vì bị vướng
vào ái dục mà phải bỏ chức tổng thống. Các vị nguyên thủ quốc gia phải
học kinh này, tại vì khi bị vướng mắc thì trong lòng mình sẽ có những lo
lắng, buồn phiền, sợ hãi. Khi ấy làm sao mình có đủ minh mẫn, có đủ
thông minh để giải quyết những vấn đề trọng đại của quốc gia, làm sao
mình có thể dẫn dắt cả một dân tộc cho đàng hoàng. Kinh này không phải
chỉ dành cho người xuất gia mà còn dành cho người tại gia tới Làng Mai
tu học, nhất là các nhà chính trị, các nhà doanh thương.
Nhật dạ là ngày đêm. Nhật dạ trưởng là tăng trưởng ngày đêm.
Diên như mạn thảo sanh: Rễ đan chằng
chịt với nhau như cỏ tranh. Mạn thảo là cỏ tranh, trong bản Pali cỏ này
là Birana, rễ của nó đan chằng chịt với nhau và hình như nó có chất
ngọt nên có người muốn đào. Vì vậy nên tôi dịch mạn thảo là cỏ tranh vì
nước của rễ cỏ tranh uống vào hơi ngọt ngọt. Trong bản Pali nói, nếu
tưới thì cỏ đó sẽ mọc lên chằng chịt, phải tìm cách đào cho hết thì nó
mới không mọc lên nữa.
Trong tự điển mạn thảo là Andtropogon
muricatus và tự điển của Phạm Hoàng Hộ gọi là hồng thảo chứ không phải
mạn thảo, chữ Sanskrit là Birana.
Bài kệ 3
Nhân vi ân ái hoặc 人 為 恩 愛 惑
Bất năng xả tình dục 不 能 捨 情 欲
Như thị ưu ái đa 如 是 憂 愛 多
Sàn sàn doanh vu trì 潺 潺 盈 于 池
Bị ái ân mê hoặc người ta sớm muộn gì
cũng bị vướng vào dục tình. Cái lo lắng kia càng ngày càng lớn giống như
dòng nước rỉ, rỉ mãi cũng đầy hồ.
Nhân vi ân ái hoặc: Khi con người bị
mê hoặc. Hoặc là bị cám dỗ, bị hớp hồn. Khi con người bị cám dỗ bởi ân
ái thì Bất năng xả tình dục, không thể buông bỏ được tình dục, thế nào
cũng đi tới chuyện tình dục và rốt cuộc cũng sẽ đi tới chỗ chung đụng
xác thịt.
Thi sĩ Félix Arvers nói l’amour
platonique (chỉ yêu xuông thôi), nhưng nếu hoàn cảnh thuận tiện thì dù
yêu như thế nhưng thế nào người ta cũng sẽ phạm giới. Thái Hư đạo sư
nói: Tình yêu, nếu cứ tăng trưởng thì chắc chắn sẽ đưa tới tình dục và
đưa tới tình dục thì sẽ làm tan vỡ tất cả, nhất là đối với người xuất
gia. Vì vậy mình không thể coi thường, mình đừng tưởng là yêu suông thì
không sao mà phải lo ngay từ lúc ban đầu.
Nếu đó là tình huynh đệ thì không sao
cả nhưng nếu nó có hơi hướng của ái dục thì mình phải biết là nó sẽ đẩy
mình tới tình dục. Chuyện này đã có xảy ra trong đại chúng, đồng tính
cũng như dị tính. Một sư chú với một sư cô và hai người đã rủ nhau đi.
Vì vậy mình phải thấy cho rõ, đây có phải là tình huynh đệ hay không?
Nếu nó có màu sắc của ái dục thì mình phải cẩn thận, nếu để cho nó lớn
thì sẽ đưa tới sự gần gũi. Đây chỉ là vấn đề con người, nhưng tại vì
mình đã xuất gia, mình đã có chí nguyện đi theo sự nghiệp của Đức Thế
Tôn nên mình phải chọn lựa. Muốn thành công mình phải làm như vậy, mình
phải nhắc nhở nhau. Khi người khác nhắc mình thì mình phải chắp tay lại
cám ơn. Mình không nên nói: “có gì đâu!“ Những vị đã bỏ đi, ngày xưa
cũng đã từng nói như vậy.
Như thị ưu ái đa: Cái lo lắng kia càng
ngày càng lớn. Mình phải cẩn thận lắm mới được tại vì ở dưới mặt đất cỏ
mọc rất mau, nó mọc chằng chịt vướng vào nhau, cho nên Đức Thế Tôn nói
nó mọc chằng chịt như cỏ tranh. Bụt dạy mình đừng nghĩ rằng đó là chuyện
không quan trọng.
Sàn sàn doanh vu trì: Nó là dòng nước
rỉ, nhưng mai mốt sẽ đầy hồ, và khi hồ đầy rồi thì nước sẽ tràn ra. Đây
là hình ảnh thứ ba trong kinh. Hình ảnh đầu là con vượn chuyền cành,
hình ảnh thứ hai là cỏ tranh mọc kín, hình ảnh thứ ba là nước rỉ đầy hồ.
Langmai

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét