Gặp người tu thiền thì khuyên ráng tu
cho được định. Gặp người tu niệm Phật thì khuyên ráng niệm Phật cho được
nhất tâm. Như vậy đâu có gì trái với đạo. Hiểu cho sâu, thấy cho rõ
khuyến khích nhau tu hành tới nơi tới chốn. Đó là Phật tử biết đạo, thấy
đạo đúng như thật.
Hôm nay đủ duyên ban Hoằng pháp mời chúng tôi về đây giảng pháp cho Tăng
Ni, Phật tử nghe. Nhận thấy người Phật tử cần có niềm tin chân chánh
đối với giáo pháp, đồng thời để cho giới Tăng Ni hiểu rõ những pháp môn
Phật dạy nên tôi sẽ nói về “Phương pháp tu Tịnh độ tông và Thiền tông”.
Trong nhà Phật không có pháp nào chống đối với pháp nào, chỉ phương pháp
thực hành khác nhau thôi. Hôm nay chúng ta sẽ đối chiếu giữa hai pháp
môn Tịnh độ và Thiền tông, để nhận rõ những điểm dị đồng của hai pháp
môn này.
Phật tử Việt Nam tu theo Phật từ thế kỷ thứ 3 đến thế kỷ thứ 19, đa số
nặng về tu Thiền. Nhưng đến thế kỷ thứ 19, 20 lại nghiêng về Tịnh. Như
vậy hai pháp này có gì giống nhau, có gì khác nhau? Chúng ta phân tích
cho rõ, để không nghĩ tu Thiền đúng hay tu Tịnh độ đúng. Nếu hiểu lầm
chúng ta dễ phỉ báng nhau, chống đối nhau. Đó là điều không tốt trong
đạo.
Trước hết tôi nói về phương pháp tu Tịnh độ, cốt lõi nằm ở chỗ nào?
Chúng ta ai cũng biết rõ phương pháp tu Tịnh độ là niệm danh hiệu đức
Phật A-di-đà. Niệm cho đến bao giờ nhất tâm bất loạn thì khi lâm chung
Phật sẽ đón về Cực Lạc, hoặc thấy Phật hiện ở trước mắt. Phương pháp này
rất dễ tu, chỉ dùng câu niệm Phật chí thành sẽ được kết quả. Vì vậy
Phật dạy người tu pháp môn Tịnh độ phải đủ ba điều kiện: một là Tín, hai
là Hạnh, ba là Nguyện.
Tín nghĩa là tin chắc rằng có cõi Cực Lạc cách thế gian mười muôn ức thế
giới. Cõi này hiện có đức Phật A-di-đà đang thuyết pháp. Nếu người
thành tâm niệm tới chỗ nhất tâm bất loạn thì Phật Di-đà sẽ đón về cõi
Cực Lạc. Tin khẳng định như vậy niệm Phật mới có kết quả. Câu “Nam-mô
A-di-đà Phật” đã hết sức là giản đơn, vậy mà sau này có nhiều người chế
biến đơn giản hơn nữa. Chỉ niệm “A-di-đà Phật” là đủ. Đó là một sai lầm.
Tôi xin nêu ví dụ thế này, nếu tên cha của chúng ta là Nguyễn Văn A, có
người nào đó kêu Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn A hoài, mình giận không? Kêu
tên cha mình sao không giận được? Đức Phật hiệu A-di-đà, đó là tên của
Ngài. Cứ niệm A-di-đà Phật hoài tức là kêu tên Ngài, như vậy có tội
không? Đó là một nghi vấn đa số Phật tử khi bị hỏi đều lúng túng. Ở đây
tôi sẽ giải thích cho quí vị hiểu rõ.
Tên Phật là A-di-đà Phật, tiếng Phạn là Amita Buddha. Chữ Nam-mô tiếng
Phạn là Namo cũng đọc là Nẳng mồ, dịch nghĩa là cung kính hướng về. Namo
Amita Buddha, nghĩa là thành tâm hướng về đức Phật A-di-đà. Nếu ta niệm
Nam-mô A-di-đà Phật là cung kính hướng về đức Phật A-di-đà, như vậy có
tội không? Như nói cung kính hướng về ông Nguyễn Văn A, thì người đó có
giận ta không? - Không. Đằng này Phật tử bỏ hai chữ cung kính, chỉ niệm
A-di-đà Phật, khác nào kêu tên Phật. Như thế vô tình làm giảm lòng cung
kính của mình đối với đức Phật. Cho nên Phật tử đừng đơn giản hóa như
vậy.
Xưa nay chúng ta quen nghe từ Lục tự Di-đà, nghĩa là sáu chữ Di-đà.
Nam-mô là hai, A-di là bốn, Đà Phật là sáu. Hai chữ đầu là cung kính,
bốn chữ sau là tên. Lúc nào chúng ta cũng thành tâm cung kính niệm Phật,
nhờ vậy mới đi tới nhất tâm bất loạn. Nếu niệm để niệm thì việc niệm
Phật không có ý nghĩa gì cả.
Thứ hai là Hạnh. Biết có cõi Cực Lạc, đức Phật A-di-đà đang giáo hóa ở
đó, giờ đây chúng ta phải tha thiết thành tâm niệm danh hiệu Ngài để
được nhất tâm bất loạn. Nhờ tâm tha thiết đó, niệm lâu sẽ được kết quả
nhất tâm bất loạn. Trong kinh Di-đà có câu: “Hoặc một ngày, hai ngày, ba
cho đến bảy ngày niệm danh hiệu Phật A-di-đà được nhất tâm bất loạn,
khi lâm chung sẽ thấy đức Phật A-di-đà và Thánh chúng hiện ở trước.”
Niệm Phật muốn cho kết quả tốt đẹp phải tha thiết, đi đứng nằm ngồi đều
niệm Phật để cho tâm mình đừng nghĩ tưởng loạn động nữa. Như vậy mới đi
tới chỗ nhất tâm bất loạn. Đó là phần Hạnh.
Thứ ba là Nguyện. Người tu niệm Phật lúc nào cũng nguyện được vãng sanh
về cõi Cực Lạc, làm dân ở cõi Phật. Nguyện đó cần phải tha thiết thì
công phu mới có kết quả như sở nguyện. Ba phần Tín, Hạnh, Nguyện là căn
bản, cốt lõi trong sự tu của pháp Tịnh độ. Nếu thiếu một trong ba phần
này, tu sẽ không kết quả.
Gần đây nhiều vị lại nói quá đơn giản rằng ai niệm Phật mười câu, khi
nhắm mắt cũng được Phật đón về Cực Lạc. Gọi đó là đới nghiệp vãng sanh,
tức mang nghiệp về Cực Lạc tu tiếp. Đơn giản hóa khiến cho Phật tử sanh
tâm lười biếng, tu sơ sơ thôi. Chừng nào gần chết niệm mười câu thì Phật
đón về bên ấy. Tu lơ mơ kiểu đó Phật nào dám đón! Nói thế là vô tình
làm cho Phật tử sanh tâm khinh lờn, lười biếng.
Kinh Di-đà không nói như vậy. Phật dạy chúng ta niệm Phật cho tới nhất
tâm bất loạn, chừng đó Phật mới đón. Chúng ta tu đúng kết quả mới đúng,
tu không đúng kết quả sẽ không đúng. Quí vị thử nghĩ người nóng giận,
tham lam, còn nhiều tật xấu, chỉ cần gần chết niệm mười câu danh hiệu
Phật là được đón về Cực Lạc, thật vô lý. Tại sao? Vì Cực Lạc là tịnh độ,
hoàn toàn trong sạch thì đâu có chứa những chúng sanh còn đầy dẫy tham,
sân, si. Còn nghiệp xấu làm sao mang về bên đó được, ai dung mình? Cho
nên tôi hay nói đùa, quí Phật tử còn sân nhiều mà về Cực Lạc, lỡ nổi sân
cãi nhau, chừng đó Phật mất công đưa về bên này nữa. Vì làm ô uế cõi
thanh tịnh thì phải trở lại chớ sao! Muốn sanh về cõi tịnh thì nghiệp
cũng phải thanh tịnh. Nghiệp còn xấu xa nhơ nhớp mà đòi về cõi tịnh thì
quá đáng, khó chấp nhận được. Đó là một lẽ thật.
Phật tử hay có bệnh niệm Phật tính chuỗi. Bữa này được hai chuỗi, ba
chuỗi, ngày mai tính thêm bốn chuỗi. Tính rồi ghi vô sổ, tới tháng trình
với thầy. Tính chuỗi để trình mà tâm chưa yên. Niệm Phật như vậy là
chưa đúng cách, chưa được. Chúng ta niệm Phật đừng nghĩ tính chuỗi để
trình thầy, làm sao đi đứng nằm ngồi cũng đều niệm Phật. Khi có việc cần
nghĩ thì nghĩ, không có việc thì cứ nhớ niệm Phật luôn. Như vậy mới tới
chỗ nhất tâm, đức Phật mới hiện ra lúc lâm chung. Nhiều vị cầm chuỗi
niệm mà tính số hoài, nên cuối cùng không có kết quả gì.
Chúng ta tu phải thật tu, tu cho thành công. Chớ không phải tu cho thiên
hạ thấy mình tu giỏi. Trọng tâm của niệm Phật là niệm đến nhất tâm bất
loạn. Tại sao? - Bởi vì tâm của chúng ta luôn loạn động, ít khi được yên
hoàn toàn. Nếu có cũng một tí xíu thôi, rồi nghĩ chuyện khác. Hết nghĩ
chuyện này tới nghĩ chuyện kia liên miên. Tâm chao đảo, xao xuyến đó là
tâm tạo nghiệp, với nào là thương ghét, buồn giận v.v… hoặc nghiệp sanh
lên các cõi lành, hoặc nghiệp đọa xuống các đường dữ.
Bây giờ muốn cho nghiệp lặng hết thì phải làm sao? - Phải tin tưởng có
đức Phật A-di-đà, tin tưởng có cõi Cực Lạc. Tin như vậy rồi chú tâm niệm
Phật không nhớ gì hết. Lâu ngày chỉ còn câu niệm Phật, cuối cùng câu
niệm Phật cũng lặng luôn. Đó là niệm tới nhất tâm. Nhất tâm là không còn
niệm thứ hai nữa. Cuối cùng niệm Phật cũng phải buông, chừng đó mới
thấy Phật.
Chủ đích của pháp môn này là dùng câu niệm Phật để dẹp trừ tâm loạn
tưởng. Tâm loạn tưởng hết rồi gọi là niệm Phật nhất tâm, lúc đó trí tuệ
sáng suốt hiện tiền. Cho nên niệm Phật tới nhất tâm là đi tới chỗ định,
từ định phát sanh trí tuệ. Gốc của sự tu là đi tới thiền định và trí tuệ
để được giải thoát. Cho nên biết nhất tâm của người tu niệm Phật gọi là
Niệm Phật tam-muội, cũng đồng nghĩa với chỗ định của người tu thiền.
Như thấy người đi ngoài đường, vừa đi vừa nói lẩm nhẩm một mình, chúng
ta bảo kẻ đó điên. Người tỉnh táo sáng suốt có chuyện cần nói mới nói,
không thì thôi. Còn cứ lẩm nhẩm một mình hoài, không phải điên là gì?
Cũng thế, chúng ta khá hơn một chút không nói ra miệng, nhưng nói thầm
trong bụng. Cứ lầm thầm nói này nói kia hoài không yên, như vậy mình có
điên không? Nên Phật gọi là vọng tưởng điên đảo. Điên đảo là nghĩ bậy,
lộn xộn, không có thứ tự. Nhiều việc không cần nói mà cứ nói, không cần
nghĩ mà cứ nghĩ. Đó là vì chúng ta không làm chủ được mình. Do đó phải
mượn câu niệm Phật để quên các niệm lăng xăng, nhớ làm chủ. Đến lúc nào
các thứ vọng tưởng điên đảo hoàn toàn lặng hết thì trí tuệ sáng ngời, là
lúc thấy Phật. Đó là tôi nói về Tịnh độ.
Bây giờ nói về tu Thiền. Thiền tông tu như thế nào? Nói tới tu thiền là
nói tới định. Trong ba môn vô lậu học Giới, Định, Tuệ; Định là thiền
định, từ thiền định phát sanh trí tuệ. Cho nên Giới, Định, Tuệ còn được
gọi là ba môn giải thoát. Trong Bát chánh đạo, từ Chánh kiến tới cuối
cùng là Chánh định, Phật cũng dạy tu để được định. Tâm loạn tưởng hết
gọi là định. Nói về pháp Lục độ cũng phải định rồi tuệ: bố thí, trì
giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ. Có thiền định mới có trí
tuệ.
Người tu Phật phải biết rõ Phật là bậc giác ngộ sáng suốt, giác ngộ một
cách viên mãn. Lâu nay chúng ta thường học: tự giác, giác tha, giác hạnh
viên mãn. Tức là mình giác ngộ rồi, giúp cho người khác cũng được giác
ngộ, mình và người đều giác ngộ tròn đầy thì thành Phật. Nhưng giác ngộ
từ đâu mà có? - Từ tâm định mà có, chớ không phải ở ngoài đến. Lâu nay
chúng ta không biết, cứ nghĩ tu để được phước đức nhiều, để Phật độ cho
làm ăn phát tài, để gia đình không bị tai nạn v.v… Thật sự tu là phải
dẹp bỏ tâm lăng xăng điên đảo của mình. Nó được lặng yên đi thì mới đi
tới trí tuệ sáng suốt. Người tu thiền nhất là Thiền tông, tâm phải được
định.
Lâu nay tôi vẫn thường nghĩ nước Việt Nam chúng ta được duyên lành gặp
Phật pháp từ thế kỷ thứ 3. Ngài Khương Tăng Hội dạy Lục diệu pháp môn,
là sáu phương pháp tu để cho tâm an định. Có khi Ngài cũng ứng dụng pháp
Lục độ để tu. Như vậy từ thế kỷ thứ 3 Tổ tiên mình đã tu thiền. Tới thế
kỷ thứ 6 có Tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi từ Trung Hoa sang dạy tu thiền. Thế kỷ
thứ 9 có ngài Vô Ngôn Thông cũng từ Trung Hoa sang dạy tu thiền. Thế kỷ
17, 18 có các ngài Nguyên Thiều, Liễu Quán đều dạy tu thiền. Như vậy hệ
thống tu thiền dài gần hai ngàn năm.
Có một lần đi Nhật, trên tàu tôi gặp hai, ba vị cũng qua Nhật. Tôi làm
quen và hỏi: “Quí vị qua Nhật làm gì?” Họ nói: “Qua Nhật để học thiền.”
Sau này tôi được một Phật tử trình bày cho nghe, có vị sư Nhật lập một
Thiền đường ở Paris - Pháp. Đến kỳ nghỉ hè vị ấy đi thăm các nước Đông
Nam Á. Lúc về Sư kể lại Phật giáo các nước Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan
v.v… cho những Thiền sinh nghe. Trong số ấy, có một Phật tử Việt Nam
hỏi:
- Thưa Thầy, Thầy có sang Việt Nam không?
Sư đáp:
- Có.
Phật tử hỏi tiếp:
- Thưa Thầy, Thầy thấy Phật giáo Việt Nam thế nào?
Sư cười ha hả nói:
- Tạp nhạp.
Nghe vậy tôi rất buồn. Khi sang Nhật tôi thấy rõ có những tông phái: Nếu
là Thiền thì Thiền đường rất đàng hoàng. Nếu là Tịnh thì tu cũng rất
đàng hoàng. Tu môn gì ra môn ấy. Về tới Việt Nam thật là chịu thua,
không biết mình tu pháp gì, đủ thứ hết. Vì vậy người ta chê tạp nhạp.
Tại sao thiền được truyền vào Nhật Bản sau Việt Nam năm trăm năm, mà bây
giờ người ta qua đó học. Còn Thiền tông đã có mặt ở Việt Nam lâu thôi
là lâu, mà không ai thèm tới học với mình, ngược lại mình còn qua Nhật
học nữa chứ. Có tủi chưa! Đó là điều tôi thấy rất tủi. Vì thế sau khi
học xong chương trình trong đạo, tôi phát nguyện chuyên tâm nghiên cứu
về thiền, nhất là thiền Việt Nam.
Lúc đầu tôi đọc sử ba mươi ba vị Tổ ở Ấn Độ, Trung Hoa. Đọc tới đọc lui
muốn điên cái đầu mà vẫn không hiểu gì hết. Thấy như các ngài nói đùa
nói cợt chơi vậy, chớ không có lẽ thật. Nhất là đọc câu chuyện Tổ Đạt-ma
với ngài Huệ Khả. Ngài Huệ Khả hi sinh đứng ngoài tuyết suốt đêm tại
Thiếu Lâm. Miền Bắc Trung Hoa bấy giờ tháng mười một, tuyết xuống ngập
đầu gối, mà Ngài vẫn đứng thản nhiên để cầu đạo. Tổ Đạt-ma nhìn thấy
hỏi: “Ông cầu gì mà khổ hạnh như vậy?” Ngài Huệ Khả thưa: “Con muốn cầu
Ngài chỉ phương pháp tu để được giác ngộ.” Tổ quở: “Muốn cầu giác ngộ
thành Phật phải nhiều đời nhiều kiếp hi sinh thân mạng mới được. Ông
dùng chút khổ hạnh như vậy làm sao cầu được?” Ngài Huệ Khả nghe thế,
liền đi xuống bếp lấy dao chặt một cánh tay dâng lên nói: “Con xin dâng
cái này để cầu pháp.” Tổ gật đầu nói “được” và đặt hiệu là Huệ Khả.
Câu chuyện này tôi dịch rồi mà vẫn bán tín bán nghi. Ngài Huệ Khả chặt
cánh tay đem dâng Tổ, lúc đó có ra máu không, sao không nghe băng bó?
Chẳng lẽ để máu me chảy dầm dề dâng cho Tổ? Tôi ngờ ngay chỗ đó. Hơn
nữa, sau này không thấy sử ghi Ngài cụt một cánh tay. Đó là hai điều tôi
ngờ. Do đó tôi nghĩ đây là các ngài muốn diễn tả tâm quyết liệt tu
hành. Dù chết, dù bỏ thân mạng cũng không tiếc, để người sau bắt chước.
Sự thật ra sao thì không rõ.
Sau khi được Tổ nhận làm đệ tử rồi, một hôm Ngài bạch với Tổ: “Tâm con
không an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm.” Khi đó Tổ nhìn thẳng vào
mặt ngài Huệ Khả bảo: “Đem tâm ra ta an cho.” Ngài sửng sốt quay lại tìm
tâm. Tìm một hồi không được, Ngài thưa: “Bạch Hòa thượng, con tìm tâm
không được.” Tổ bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi.” Ngay đó Ngài biết
đường vào.
Lúc trước chúng tôi đọc đi đọc lại nhiều lần, cứ ngỡ như Tổ đùa chơi
vậy, không dạy gì cả. Nhưng sau một thời gian, có cơ hội nhập thất
chuyên tu, đọc lại chỗ đó tôi sửng sốt không ngờ Tổ chỉ một cách hết sức
khéo léo, hết sức cụ thể, chớ không phải chuyện tưởng tượng. Thật là
khéo léo làm sao!
Tâm không an là tâm nghĩ chuyện này, chuyện nọ. Có khi mình dặn nó nhớ
Phật thôi đừng nhớ bậy, mà nó cứ nhớ bậy hoài. Hoặc bảo nó nhớ hơi thở,
đừng nhớ bậy mà nó cứ nhớ chuyện này chuyện nọ, không an. Nhưng Tổ
Đạt-ma không dạy cách nào hết, mà bảo “đem tâm ra ta an cho”. Bình
thường nó lăng xăng lộn xộn, nhưng khi tìm lại nó ở đâu? - Tìm lại thì
mất tăm, mất dạng. Cho nên ngài Huệ Khả trình bày một cách thật thà “con
tìm tâm không được”. Tổ bảo “ta đã an tâm cho ngươi rồi”.
An bằng cách nào? Đó là điều hết sức quan trọng mà người học Phật chúng
ta không nắm được. Tổ Đạt-ma khi truyền thiền sang Trung Hoa, Ngài có
lập bốn câu châm ngôn:
Bất lập văn tự
Giáo ngoại biệt truyền
Trực chỉ nhân tâm
Kiến tánh thành Phật.
Lấy bốn câu đó làm tiêu chuẩn. Như vậy bảo “đem tâm ra ta an cho”, câu
đó trong kinh điển nào? - Không có. Thế mà ngài Huệ Khả nhân đó ngộ được
pháp tu. Nên nói “bất lập văn tự”.
Trong mười mục chăn trâu, mục thứ nhất là tìm trâu. Nhà thiền còn dùng
từ “Phản quan tự kỷ”, tức là nhìn lại chính mình. Bởi vì lâu nay chúng
ta mê lầm cho tâm lăng xăng lộn xộn là tâm mình thật. Vì thế bị nó dẫn
dụ lôi kéo tạo nghiệp không cùng. Bây giờ ta nhìn thẳng mặt xem nó ở đâu
thì nó mất. Như vậy cần gì mượn phương tiện, cứ nhìn thẳng xem tâm lăng
xăng đó ở đâu, nó sẽ tự mất. Nhìn lại tâm lăng xăng của chính mình gọi
là Phản quan tự kỷ. Đó là lối tu không dùng lời giảng trong kinh, cũng
không dùng chữ nghĩa, chỉ nhìn lại mình là vọng tưởng tự lặng, tự yên.
Vì thế chúng tôi mới hướng dẫn Tăng Ni và Phật tử tu bằng cách, khi niệm
dấy khởi mình nhìn lại biết nó hư vọng thì nó tự mất. Người tu Tịnh độ
niệm Phật để dứt niệm bậy, dừng các thứ nghĩ khác. Còn người tu thiền
nhìn thẳng vào những dấy niệm đó xem mặt mũi thế nào, thì nó tự mất. Cả
hai pháp chủ yếu đều dẹp tâm lăng xăng. Vì tâm lăng xăng là tâm tạo
nghiệp, tâm giả dối. Thấy rõ được bộ mặt thật của nó rồi, tự nhiên nó
không còn, vì bản chất của nó vốn là hư vọng.
Chúng ta có hai thứ mê lầm: một là lầm thân này thật, hai là lầm tâm
sanh diệt là tâm mình thật. Thân xác thịt này thật không? Ai cũng nói nó
giả, nhưng thử thiên hạ đánh một bạt tai, lúc đó mới biết giả hay thật?
Nhất định ăn thua tới cùng. Khi học kinh Phật nói giả ta cũng tin là
giả, nhưng gặp việc thì thành thật hết.
Tất cả chúng ta đều nhiều lần chứng kiến những người thân của mình đang
sống khỏe mạnh, bỗng nhiên ngã bệnh rồi chết. Khi còn sống, còn nói
năng, làm việc ta cho là thật. Nhưng ngã bệnh tắt thở, lúc đó thật hay
giả? Nếu thật thì còn, mà bây giờ không còn. Nên thấy người đi trước giả
thì biết thân mình tuy còn hoạt động đây nhưng cũng là đồ giả. Thế
nhưng chúng ta vẫn cứ mê lầm ngỡ nó là thật.
Từ mê lầm ngỡ thân này thật, đi tới mê lầm thứ hai là những nhu cầu nó
đòi hỏi, ta cũng thấy thật luôn. Muốn ăn ngon phải chạy tìm món ăn ngon,
muốn mặc đẹp phải chạy tìm mặc đẹp. Tất cả những gì nó muốn đều chạy
theo nó hết. Suốt đời làm cho nó thỏa mãn, mà có bao giờ được thỏa mãn
đâu! Như vậy không mê lầm là gì?
Vì muốn thỏa mãn vật chất nên con người không từ bỏ những việc làm xấu
nào để đạt được mong muốn của mình. Từ đó sanh ra tranh đấu giành giật,
rồi sát phạt nhau đủ thứ khổ đau. Bây giờ biết cuộc sống này giả tạm,
bảy tám chục năm là cùng, thì thôi sống vừa phải, giành giật nhau làm
gì, cuối cùng có còn không? - Mất hết. Trên thế gian bao nhiêu sự giết
hại, cũng vì giành giật với nhau để thỏa mãn cho thân này. Đó là lầm về
thân.
Kế đến là lầm về tâm. Những thứ nghĩ phải nghĩ quấy, nghĩ hơn nghĩ thua
cho đó là tâm mình thật. Khi cho nó là tâm mình thật rồi, ta nghĩ thế
này là đúng, người khác nghĩ thế khác, họ cũng cho là đúng. Hai cái đúng
nghịch nhau gặp nhau sẽ tóe lửa, chớ không thể nào yên được. Cho nên
người ta cãi vã, đánh đập nhau cũng chỉ vì cái đúng của tôi. Nhưng thật
ra có tâm vô thường nào đúng đâu? Nó chỉ đúng với người này mà không
đúng với người khác. Hoặc đúng trong trường hợp này mà không đúng trong
trường hợp khác.
Ví dụ tôi ngồi trên núi thấy hướng Nam có một cụm mây đen, gió thổi bay
qua một chút sau trời mưa. Hôm sau tôi cũng thấy như thế nên kêu mọi
người chung quanh đem đồ vô, lát nữa trời sẽ mưa. Người nào không chịu
đem vô tôi giận, bực bội la: “Tại sao không đem đồ để mưa ướt.” Nhưng
một lát gió thổi ngược hướng, mây bay tuốt, trời không mưa. Như vậy tôi
la có đúng không?
Cái nghĩ của mình chẳng qua do kinh nghiệm quá khứ, mình đặt ra như vậy
và tưởng là đúng. Nhưng quá khứ đâu có lặp lại, mọi sự luôn đổi thay,
lấy việc quá khứ cho là hiện tại rồi kết luận đúng một trăm phần trăm là
một sai lầm. Bởi lầm mê cho cái nghĩ của mình là thật nên sanh ra tranh
đấu, hơn thua, phải quấy với nhau.
Khi ta nghĩ thế này, người khác nghĩ thế khác, mỗi người chỉ nên nói đây
là cái nghĩ của tôi. Nếu những suy nghĩ ấy giống nhau thì tốt, không
giống nhau cũng không sao. Đừng nói cái nghĩ của tôi là đúng. Bởi vì hai
cái nghĩ khác nhau đều đúng sẽ dẫn đến đấu tranh. Trong khi đó chuyện
đúng sai không quyết định được, vì các pháp luôn thay đổi. Sống yên ổn
vui vẻ hòa hợp là được. Đừng cho lý lẽ của mình là đúng, người khác sai
rồi giận hờn trách cứ làm chi cho mệt.
Những suy nghĩ của chúng ta là vọng tưởng, không phải chân lý, làm sao
cả quyết là đúng được? Nó sanh đó rồi diệt đó, không phải tâm mình thật,
chỉ là bóng dáng sanh diệt thôi. Biết nó không thật thì việc tu dễ
dàng. Đức Phật đã thấy được tận gốc ngọn của đau khổ. Từ chấp thân chấp
tâm thật mà tạo ra không biết bao nghiệp khổ đau. Vì vậy Phật dạy trước
phải phá chấp thân là thật. Thân này hiện có do duyên hợp tạm bợ, không
phải thật. Tâm phân biệt duyên theo cảnh, duyên theo bóng dáng sáu trần
cũng là tạm bợ không thật. Thân và tâm không chấp thật, nhất định sẽ tới
chỗ an định tâm, trí tuệ sáng suốt chân thật hiện ra.
Phương pháp niệm Phật cũng để diệt tâm loạn tưởng. Phương pháp thiền
định cũng để diệt tâm loạn tưởng. Kết quả chung của người tu đạo Phật là
đi tới chỗ định, dừng tâm loạn tưởng. Tâm loạn tưởng dừng rồi thì trí
tuệ chân thật mới hiện ra. Vì vậy chúng ta không phải tìm kiếm ở đâu xa,
mà hãy quay lại thấu suốt nơi mình, tự nhiên sẽ nhận ra cái chân thật
sẵn có. Cái chân thật đó đức Phật Thích-ca đã thực hiện được sau khi
thiền định bốn mươi chín ngày đêm dưới cội bồ-đề.
Những gì Ngài thấy biết, nói lại cho chúng ta nghe, muôn đời không sai
chạy. Còn thấy biết thế gian chỉ có giá trị tạm thời trong một giai đoạn
nào thôi. Tùy theo nhu cầu sống thay đổi nó cũng thay đổi, chớ không
nguyên vẹn. Cho nên lời Phật dạy là chân lý.
Có lần Phật hỏi các Tỳ-kheo:
- Mạng người sống trong bao lâu?
Có thầy thưa:
- Bạch Thế Tôn, mạng người sống trong ba tháng.
Phật lắc đầu nói:
- Ông chưa hiểu đạo.
Vị khác thưa:
- Bạch Thế Tôn, mạng người sống trong một tháng.
Phật cũng lắc đầu. Các thầy lần lượt đứng lên thưa bảy ngày, ba ngày,
chỉ trong bữa ăn. Phật đều lắc đầu nói: “Ông cũng chưa thấy đạo.” Cuối
cùng một Tỳ-kheo thưa:
- Bạch Thế Tôn, mạng người sống trong hơi thở.
Phật nói:
- Đúng, ông mới thấy đạo.
Chúng ta thử nghiệm lại xem có người nào thở khì ra, không hít lại mà
sống không? Thở khì ra không hít lại là chết. Đó là lẽ thật. Phật chỉ
đúng lẽ thật cho chúng ta không lầm lẫn. Nhưng người thế gian lầm lẫn
nhiều quá. Vì vậy nghe Phật dạy khó hiểu, không thâm nhập được.
Phật nói do thiền định có trí tuệ. Trí tuệ này khác với trí thức. Muốn
có trí tuệ này phải thiền định, từ định sanh tuệ. Muốn định thì phải
buông xả hết mọi suy nghĩ, mọi lo lắng, mọi tính toán. Còn học giả hay
trí thức, tức là giỏi phân biệt. Trí phân biệt này do lượm lặt kiến thức
của người này, người kia gom lại thành một số kiến thức của mình, gọi
là trí thức. Nếu gom thật nhiều gọi là bác học. Thế nên lý thuyết của
người khác chỉ đúng trong một thời đại, một giai đoạn. Qua thời đại
khác, giai đoạn khác nó không còn đúng nữa. Như vậy suốt đời lao theo
việc học, rốt lại cũng không có cái gì là của mình, không có gì đúng
mãi.
Ví dụ như Tổ tiên, ông bà chúng ta ngày xưa rất quí trọng Nho giáo.
Những lý thuyết của đức Khổng Tử đều được tôn trọng và học hiểu. Nhưng
tới thời này đem ra dùng không được. Những gì Khổng Tử nói ngày xưa
chẳng những bây giờ không dùng, mà còn có thể bị phản đối nữa là khác.
Như phái nữ hồi xưa dạy tam tòng tứ đức: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng
phu, phu tử tòng tử. Bây giờ ở Tây phương họ không chịu như thế. Bất kỳ
một học thuyết nào khi đã bị chống đối thì nó không phải là chân lý
rồi. Vậy học cho thật nhiều thành nhà bác học, rốt cuộc cũng bỏ chơi
thôi.
Còn Trí tuệ Phật nói phát xuất từ Tự tâm mình. Do tâm yên lặng trí phát
sáng, thấy đúng như thật. Như khi tâm Phật định rồi sáng lên, Ngài chứng
được Thiên nhãn minh, thấy vô số vi trùng trong bát nước, thấy vô số
thế giới bên ngoài vũ trụ. Phật thấy thân này là một ổ vi trùng nên
trong kinh chữ Hán có câu: “Nhân thân chi nội hữu vô số vi trùng tại
trung vi trú.” Hồi xưa có ai biết vi trùng là gì đâu, ngày nay mới biết
thân này có bao nhiêu vi trùng đang hoạt động.
Đức Phật đã thấy tường tận mọi thứ bằng trí tuệ của Ngài, chớ không học
với ai hết. Ngồi yên định, tâm sáng tự phát ra thấy tột lẽ thật của muôn
pháp. Trí tuệ này còn được gọi là Tự nhiên trí hay Vô sư trí, là trí
không thầy hay trí có sẵn. Giới, Định, Tuệ trong nhà Phật là vậy. Hiểu
rõ chỗ này chúng ta mới biết đường tu.
Tu niệm Phật hay tu thiền cốt đi tới định tâm. Nhất tâm là không còn
niệm thứ hai, đó là định. Thiền định cũng không còn dấy niệm khác, đó là
định. Trọng tâm của đạo Phật dạy không hai, nhưng phương tiện dùng có
khác. Với người tin ở bên ngoài thì dạy niệm Phật. Với người tin nơi
mình, “trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật” thì dạy tu thiền. Chỉ
thẳng tâm người, cái gì giả biết giả đừng theo, nhận ra Bản tâm liền
được giác ngộ. Hai bên khác nhau ở trong và ngoài. Nhưng gặp nhau một
chỗ là đều đi tới nhất tâm.
Phật nói Tịnh độ có hai phần: sự Tịnh độ và lý Tịnh độ. Sự Tịnh độ là
tin có cõi Cực Lạc, có đức Phật A-di-đà sẽ đón mình. Lý Tịnh độ là Tự
tánh Di-đà, duy tâm Tịnh độ. Nghĩa là tâm tịnh thì cõi nước tịnh, Phật
A-di-đà là Tánh giác của chúng ta. Như trên đã nói, A-di-đà là tiếng
Phạn, Trung Hoa dịch là Vô lượng thọ, Vô lượng quang, nghĩa là sống lâu
vô lượng, ánh sáng vô lượng. Phật nói Tánh giác sẵn có của mình không
sanh diệt nên tuổi thọ vô lượng. Tánh giác đó cũng là trí tuệ sáng ngời,
thấy biết đúng như thật nên gọi là Vô lượng quang.
Như vậy Tự tánh Di-đà, chỉ tâm thanh tịnh là Tịnh độ. So với Thiền tông
chỗ cứu kính không hai. Thiền định để dừng tâm lăng xăng, trí tuệ phát
sáng. Định tuệ song song, có an định mới có trí tuệ và ngược lại có trí
tuệ thì luôn an định. Nói vậy nhiều vị cho rằng khó hiểu. Bây giờ tôi
lấy ví dụ gần nhất, như khi chúng ta gặp việc rối, đầu óc nặng trĩu, lúc
đó mình nghĩ được gì không? - Không nghĩ được gì hết. Khi tâm trí thanh
thản nhẹ nhàng mình mới nghĩ được điều hay. Thế nên các nhà khoa học
phát minh được những điều mới từ sự chăm chú. Họ dồn hết tâm lực vào một
vấn đề, chuyên ròng năm bảy năm vào việc ấy, hôm nào đó bỗng nhiên họ
sáng tỏ. Thử hỏi lúc đó họ học với ai? - Không học với ai hết, chỉ do
chú tâm yên định vào một vấn đề nên phát sáng ra.
Trí vô sư ai cũng có hết, nhưng chúng ta không sử dụng được vì tâm loạn
động. Muốn sử dụng nó phải lắng tâm loạn động ấy đi nó mới xuất hiện.
Trí vô sư còn gọi là Phật tánh. Cho nên thiền định của Thiền tông là
phải lặng tâm lăng xăng hư ảo không thật, đừng chạy theo nó nữa.
Các Thiền sư khéo diễn tả những giai đoạn tu bằng hình ảnh thằng chăn
rượt bắt con trâu. Lúc đầu trâu còn hoang khó dạy, lôi đầu nó không
được, buộc lòng phải có roi có dây dàm để lôi nó. Đó là chỉ cho người tu
giai đoạn đầu, tâm quá lăng xăng cần có giới luật làm dây dàm để kiềm
chế. Nếu không có giới lấy gì kiềm chế, cứ thả trôi riết thì không còn
làm chủ được mình nữa. Vì vậy giới luật là sợi dây xỏ mũi, là cây roi
chận đón con trâu, không cho chạy càn vào lúa mạ người. Điều khiển con
trâu từ hung hăng trở thành hiền hòa. Tới khi trâu đã thuần thục, thằng
chăn nằm ngủ khò, không thèm coi chừng nó cũng yên. Nhưng còn trâu, còn
chăn là chưa xong. Tới ngày nào con trâu mất, thằng chăn cũng không còn,
chừng đó chỉ còn mặt trăng sáng.
Chúng ta tu cho tới chỗ không còn vọng niệm, cũng không còn chăn vọng
niệm mới là lúc hoàn toàn an định. An định rồi thì trí tuệ mới phát
sáng. Trí tuệ phát sáng chúng ta mới làm lợi ích cho mọi người một cách
tự tại. Vì vậy bức tranh số chín là hình ảnh một ông già quảy cá chép,
bầu rượu vô xóm. Đó là tự tại đi giáo hóa chúng sanh, không còn lo phiền
gì nữa.
Như tôi chẳng hạn, ngày xưa đi giảng nhiều, ngày nào cũng phải soạn bài.
Có khi soạn không kịp, khuya tôi ngồi thiền yên tĩnh, tự hỏi mai giảng
cái gì đây, bỗng nhiên trong trí hiện ra đề tài cho ngày mai giảng. Rõ
ràng khi ta không nghĩ lăng xăng thì trí sáng, còn suy nghĩ hoài trí
không sáng suốt nên không giải quyết được việc gì. Đó là những kinh
nghiệm nhỏ thôi, nếu thiền định được hoàn toàn an định thì trí tuệ tuyệt
vời biết mấy. Nhà Phật gọi từ Chân tánh phát ra diệu dụng là vậy.
Trí đó là tuệ chớ không phải là thức. Tuệ là cái thấu suốt được chân lý
muôn đời không thay đổi, còn thức do lượm lặt được ở người khác, nó sẽ
đổi thay. Một bên thâu vô, một bên loại ra. Muốn có trí thức thì thâu
vô, muốn được trí tuệ thì loại ra. Chúng ta ngồi thiền bỏ hết vọng tưởng
thì trí tuệ sáng suốt phát sanh. Còn thế gian thu vô, học cho nhiều
riết đầu óc tối mù, không sáng nổi. Như vậy trí thức là do học bên ngoài
mà được, còn trí tuệ do thiền định mà được.
Hiểu như vậy mới thấy được ý nghĩa của người tu Phật. Nhiều người tu mà
không biết tu để làm gì, niệm Phật để làm chi. Cứ nghĩ niệm để có công
đức vậy thôi, không biết rằng mục đích niệm Phật để đạt được kết quả
định tâm, phát sanh trí tuệ. Nhờ câu niệm Phật chúng ta dập tắt hết
những nghĩ suy loạn tưởng. Chúng lặng hết rồi thì trí tuệ sáng ngời. Trí
tuệ sáng ngời mới giác ngộ, thành Phật.
Phật tử tu mà còn lăng xăng lộn xộn quá. Tu cũng ham nhưng nghe ông thầy
nào coi số hay cũng muốn coi thử số mình tốt hay xấu. Hoặc sửa soạn
cưới vợ gả chồng cho con cái, nhờ thầy xem tuổi. Đứa được tuổi nó không
chịu, đứa không được tuổi nó chịu, rồi đâm ra phiền não đủ thứ hết. Đó
là vì không biết đạo. Phật không dạy những điều như thế. Phật dạy chúng
ta tu nếu biết làm lành, biết tạo duyên tốt thì sẽ hưởng quả tốt, chớ
không phải tướng số làm cho chúng ta tốt.
Mỗi con người đều có tâm tư nguyện vọng khác nhau, cha mẹ không thể áp
đặt con cái phải giống mình. Nó có quyền của nó. Nó thương người nào là
duyên của nó, lấy con mắt của cha mẹ áp đặt cho con, có tàn nhẫn không?
Tôi nói đó là áp đặt một cách độc tài. Tại sao mình muốn theo ý mình, mà
bắt nó không được theo ý nó. Thế gian cứ sai lầm như vậy mà làm khổ
nhau. Nhiều khi dẫn tới chuyện tự tử chết nữa, có phải ác độc không?
Hiểu đạo rồi, chúng ta có cái nhìn sâu hơn, thấy cuộc sống này giả tạm,
theo duyên hợp tan nên có cuộc sống hết sức hòa hợp. Chúng ta sống hết
sức bao dung, không bắt buộc ai hết. Vì biết cái nghĩ của mình chưa phải
là chân lý, bắt buộc người ta theo làm chi. Chừng nào ta hoàn toàn an
định rồi, được giác ngộ có trí tuệ mới thấy đúng, nói đúng lẽ thật.
Phật thường nói Như Lai chỉ là bậc đạo sư dẫn đường, đi hay không là tự
chúng ta. Như đối với năm giới, Phật bảo: “Năm điều đó là tư cách của
một con người. Nếu giữ đúng như vậy đời này là người tốt, đời sau trở
lại làm người càng tốt hơn. Nếu giữ không đúng đời sau sẽ không được
trọn vẹn.” Khi truyền giới quí thầy hỏi Phật tử giữ được không? Nếu giữ
được quí vị thưa “con giữ được”, nếu giữ chưa được thì làm thinh, Phật
không bắt buộc. Vì tu là tu cho mình chớ không phải cho Phật. Chúng ta
có cái khổ là bị bắt buộc mới làm, còn để tự do không chịu làm. Do đó mà
không có tiến bộ.
Đạo Phật rất tôn trọng tự do, tôn trọng lẽ thật của con người. Trong
kinh Phật nói, như người thế gian phạm tội thập ác, một Phật tử cũng
phạm tội thập ác, cả hai đều bị đọa địa ngục. Không phải vì Phật tử là
đệ tử Phật mà được nhẹ tội. Song có cái khác là người thế gian phạm tội
đọa địa ngục, khi hết tội họ cũng không biết làm lành, còn Phật tử có
tu, khi phạm tội đọa địa ngục, tới lúc hết tội ăn năn hối hận, biết làm
lành nhờ thế có phước được sanh về chỗ lành.
Tóm lại đối chiếu giữa pháp tu Tịnh độ và pháp tu Thiền, chúng ta thấy
có những điểm như sau: Người tu Tịnh độ lấy Tín, Hạnh, Nguyện làm căn
bản. Tu thiết tha, chân thành, không định thời gian, không định số
lượng, tới chỗ nhất tâm bất loạn sẽ đạt được kết quả như nguyện. Còn
người tu Thiền phải được an tâm, tức được định. Từ định mới phát tuệ.
Định là dứt hết các duyên, tuệ là tâm thường hằng sáng suốt. Hiểu như
vậy thì mới thấy đức Phật dạy pháp nào cũng đều đi đến một mục tiêu, chớ
không có khác. Nếu khác chăng là phương tiện tùy căn cơ của chúng sanh
thôi.
Hiểu vậy chúng ta học đạo, tu đạo mới không sai lầm, cũng không chống
chọi ai hết. Gặp người tu thiền thì khuyên ráng tu cho được định. Gặp
người tu niệm Phật thì khuyên ráng niệm Phật cho được nhất tâm. Như vậy
đâu có gì trái với đạo. Hiểu cho sâu, thấy cho rõ khuyến khích nhau tu
hành tới nơi tới chốn. Đó là Phật tử biết đạo, thấy đạo đúng như thật.
Nha Trang - 2002

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét