![]() |
| Nếu giữ tâm dâm dục mà mong khai ngộ, thì chắc chắn sẽ trở thành quyến thuộc của Ma vương! |
Vì tâm dâm dục chính là "trần" (bụi
bặm), tức là một thứ "trần lao"! Do đó, đừng nói là vi phạm bằng hành
động, chỉ cần trong lòng dấy khởi một ý tưởng dâm dục, có cái dâm tâm
tồn tại, thì đó cũng chính là trần lao rồi.
Kinh Văn: Hán Việt: “Nhược chư thế giới Lục-đạo chúng sanh, kỳ tâm bất dâm, tắc bất tùy kỳ sanh tử tương tục.”
Việt: “Nếu chúng sanh trong Lục-đạo ở các thế giới mà tâm không dâm dục thì sẽ không bị cuốn theo dòng sanh tử tương tục.”
Giảng nghĩa:
“Nếu chúng sanh trong Lục-đạo ở các thế giới mà tâm không dâm dục thì sẽ
không bị cuốn theo dòng sanh tử tương tục.” Giả sử tại mọi thế giới,
tất cả những chúng sanh trong sáu cõi là cõi trời, cõi A-tu-la, cõi
người, cõi địa ngục, cõi ngạ quỷ, và cõi súc sanh, đều không còn lòng
dâm dục, hết sạch dục niệm, thì dòng sanh tử của họ sẽ dứt hẳn, họ sẽ
không còn bị tùy thuộc vào dòng sanh tử cứ tiếp diễn liên tục, không hề
gián đoạn đó nữa -- sự sanh tử của họ được chấm dứt.
Kinh Văn: Hán Việt: “Nhữ tu Tam-muội, bổn xuất trần lao, dâm tâm bất trừ, trần bất khả xuất.”
Việt: “Ông tu pháp Tam-muội vốn để thoát trần-lao, nhưng nếu không trừ bỏ tâm dâm-dục thì chẳng thể ra khỏi trần-lao.”
Giảng nghĩa:
“Ông tu pháp Tam-muội vốn để thoát trần-lao.” “Ông” ở đây là chỉ ngài
A-Nan. Đức Phật nói rằng: “Này A-Nan! Ông tu Định-lực cốt yếu là để
vượt thoát trần-lao, ra khỏi sanh tử; nhưng nếu không trừ bỏ tâm dâm dục
thì chẳng thể ra khỏi trần lao. Nếu ông không đoạn trừ cái tâm dâm dục
thì việc thoát khỏi trần-lao là chuyện chẳng thể có được, không thể nào
thực hiện được! Vì sao? Vì tâm dâm dục chính là ‘trần’ (bụi bặm), tức
là một thứ ‘trần lao’ kia mà! Do đó, đừng nói là vi phạm bằng hành
động, chỉ cần trong lòng ông dấy khởi một ý tưởng dâm dục, có cái
dâm-tâm tồn tại, thì đó cũng chính là trần-lao rồi, và như thế là ông
cũng vẫn chưa thoát ra khỏi nó được. Cho nên, nếu muốn tu Đạo, muốn được
khai ngộ thành Phật, mà lại không chịu dứt bỏ dâm-tâm, thì là chuyện
chẳng thể nào xảy ra được.”
Do vậy, chỉ có những kẻ vô cùng si mê mới vừa muốn giữ cái tâm dâm dục
lại vừa muốn được khai ngộ. Tư tưởng này thuộc loại ngu si tột đỉnh, và
những người mang tư tưởng này là những kẻ khó có thể giáo hóa nhất; cho
dù bây giờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có giáng thế đi chăng nữa thì Ngài
cũng không có cách nào làm cho họ đắc Đạo hay chứng quả vị được cả! Cho
nên, hạng người này là ngu dốt nhất, si mê nhất!
Kinh Văn:
Hán Việt: “Túng hữu đa trí, Thiền-định hiện tiền, như bất đoạn dâm, tất
lạc Ma-đạo, thượng phẩm Ma-vương, trung phẩm ma-dân, hạ phẩm ma-nữ.”
Việt: “Dầu có đa trí, Thiền-định hiện tiền, mà nếu chẳng dứt trừ dâm
dục tất sẽ lạc vào Ma-đạo--thượng phẩm thì làm Ma-vương, trung phẩm thì
làm ma-dân, hạ phẩm thì làm ma-nữ.”
Giảng nghĩa:
“Dầu có đa trí, Thiền định hiện tiền, mà nếu chẳng dứt trừ dâm dục tất
sẽ lạc vào Ma-đạo.” Đức Phật lại bảo ngài A-Nan: “Cho dù ông có trí huệ
và hễ ngồi Thiền là đạt được cảnh giới khinh an, cảm thấy tốt đẹp vô
cùng, nhưng nếu ông không đoạn trừ tâm dâm dục thì ông sẽ bị trở thành
Ma-vương”. “Thiền định hiện tiền” tức là đã có khả năng nhập Định, công
phu đã có chỗ thành tựu.
“Thượng phẩm thì làm Ma-vương.” Làm ma thì bậc cao nhất là gì? Đó là
làm Ma-vương ở Lục Dục Thiên. “Trung phẩm thì làm ma-dân, hạ phẩm thì
làm ma nữ.” Bậc trung bình của loài ma là gì? Là ma dân, tức là dân
chúng bình thường của loài ma. Còn bậc thấp kém nhất của ma đạo là gì?
Là ma nữ, tuy là xinh đẹp nhưng vô cùng hèn hạ. Về điểm này, người có
trí huệ cần phải thận trọng và người thông minh cần phải chú ý! Đừng để
cho mình bị hại bởi sự thông minh của chính mình, đừng tự cho mình là
tài giỏi, phi thường: “Các người không hiểu được đâu, chỉ có tôi mới
hiểu nổi! Các người không biết gì cả, chỉ có tôi mới biết rành rẽ mà
thôi!”. Đó chẳng qua chỉ là thứ “tiểu trí tiểu huệ,” cái hiểu biết hạn
hẹp, nông cạn. Song, cái “tiểu trí tiểu huệ” ấy của quý vị có thể huỷ
hoại cả tiền đồ của chính quý vị đấy!
Kinh Văn:
Hán Việt: “Bỉ đẳng chư ma, diệc hữu đồ chúng, các các tự vị thành Vô-thượng Đạo.”
Việt: “Những loại ma ấy cũng có đồ chúng, tất cả đều tự xưng đã thành tựu Đạo Vô-thượng.”
Giảng nghĩa:
Quý vị xem, hạng người có chút “tiểu trí tiểu huệ” ấy vì không đoạn trừ
dâm-tâm nên nói toàn những chuyện ái dục – anh yêu em, em yêu anh - cứ
yêu qua yêu lại như thế rồi cuối cùng họ thành ma luôn! Thành ma rồi
thì sao nữa?
“Những loại ma ấy cũng có đồ chúng.” Chúng ma ấy cũng có đồ đệ, cũng có
kẻ ủng hộ chúng. “Tất cả đều tự xưng đã thành tựu Đạo Vô-thượng.” Bản
thân loài ma không biết xấu hổ, kẻ nào cũng tự xưng rằng: “Tôi chính
là Phật! Chúng tôi đây đều là những đấng tối cao, vô thượng!” Hễ cái
gì là to lớn, thì chúng xưng chúng là cái đó. Chúng vốn là ma nhưng lại
không chịu thừa nhận mình là ma, mà cứ xưng là Phật. Phật thì cũng có
Phật giả mạo vậy. Trên thế gian này cái gì cũng có giả được cả, cho nên
loài ma cũng có thể làm ông Phật giả. Song le, chúng không chịu nhận
chúng là thứ giả. Chúng cho rằng chúng là thứ thiệt, và cũng là “thiên
thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” (trên trời, dưới trời, chỉ mình ta là
tôn quý) nữa!
Kinh Văn:
Hán Việt: “Ngã diệt độ hậu, Mạt Pháp chi trung, đa thử ma-dân xí thạnh
thế gian, quảng hành tham dâm, vi Thiện-tri-thức, linh chư chúng sanh
lạc ái kiến khanh, thất Bồ-đề lộ.”
Việt: “Sau khi Ta diệt độ, trong thời Mạt Pháp sẽ có nhiều loại ma dân
ấy hiện ra đông đảo ở thế gian, mở rộng sự tham dâm, lại tự xưng là
Thiện-tri-thức, khiến cho chúng sanh bị sa vào hầm ái-kiến, lạc mất con
đường Bồ-đề.”
Giảng nghĩa:
Trước khi nhập diệt, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy rằng: “Hiện nay Ta
còn ở tại thế gian thì bè lũ Ma-vương không dám xuất hiện. Song le, sau
khi Ta diệt độ, trong thời Mạt Pháp, lúc Phật Pháp đang ở vào giai đoạn
tàn lụn, thì sẽ có nhiều loại ma dân ấy hiện ra đông đảo ở thế gian, mở
rộng sự tham dâm.” “Thời Mạt Pháp” chính là thời đại của chúng ta hiện
nay. Vào thời điểm này, loại ma-dân ấy rất đông đúc và chúng đi khắp
nơi nói chuyện dâm dục. Bất luận nam hay nữ, kẻ nào cũng ưa thích dâm
dục và đồng thời cũng muốn thành Phật, muốn được khai ngộ.
Làm sao tôi nhận biết được “con ma” loại này ư? Trước kia, có lần tôi
gặp một người nọ - không cần phải đề cập đến tên của ông ta - tự xưng
mình là Phật. Khi tôi nói rằng ông ta là ma, ông ta liền hỏi lại: “Ai
là ma?” Tôi đáp: “Ông chính là ma đấy!” Vì sao tôi biết được ư? Vì
ông ta cứ giở những trò của ma! Ông ta chuyên môn nói chuyện tình cảm,
yêu đương; lúc nào cũng: “I love everybody.” Ông ta lấy tư cách gì mà
thương yêu tất cả mọi người? Thật là không biết xấu, không biết hổ
thẹn!
Thời Mạt Pháp, ma-dân nhan nhản khắp nơi khiến cho thế gian này như
trong cơn hỏa hoạn, đâu đâu cũng rừng rực ngọn lửa dâm dục. Những người
thiếu hiểu biết đều hùa theo bọn chúng: “Họ nói nghe được lắm! Những
điều họ nói đều rất có lý!” Đặc biệt là những thanh niên trẻ tuổi, ai
nấy đều cảm thấy những điều chúng nói rất “tâm đầu ý hợp.” Có câu:
"Cùng mùi thối thì hợp nhau".
(Xú vị tương đầu.)
Người này thì hôi hám, người kia cũng thối tha, bởi “cá mè một lứa” cho
nên người này bảo người kia giỏi, người nọ khen người này hay. Nếu
không cùng “mùi,” chẳng cùng sở thích, thì sẽ không khen ngợi lẫn nhau;
bởi:
"Khác chí hướng ắt không cùng nhau mưu sự được".
(Đạo bất đồng tắc bất tương vi mưu.)
Tuy nhiên, nếu chí hướng giống nhau, lối suy nghĩ giống nhau, thì sẽ có
trường hợp “người mù dắt người đui” xảy ra. “Người mù dắt người đui” có
nghĩa là kẻ đui mù mà lại dẫn đường cho người mù đui. Quý vị thấy như
thế có đáng thương hay không chứ? Tôi nói như vậy chẳng phải là muốn
trách mắng người nào cả, nhưng quý vị phải biết rằng:
Hồ đồ dạy hồ đồ,
Dạy rồi chẳng ai hiểu,
Sư-phụ đọa địa ngục,
Đệ tử cũng xuống theo!
Gặp lại nhau ở địa ngục, sư-phụ mới ngỡ ngàng hỏi đệ-tử : “Ủa, sao con
cũng ở đây?”. Đệ-tử đáp: “Thì thầy tới trước kia mà. Lẽ dĩ nhiên là con
đi theo thầy thôi!”. Thì ra đôi bên đều không biết làm thế nào mình
lại lọt vào đó được! Quý vị thấy có đáng thương hay không?
“Lại tự xưng là Thiện-tri-thức.” Bọn chúng còn khoe khoang không ngượng
miệng: “Tôi đến chỗ nọ để giảng Kinh. Tôi tới chỗ kia để give lecture. I
give lecture to everybody”. Thật là buồn cười hết sức!
“Khiến cho chúng sanh bị sa vào hầm ái-kiến, lạc mất con đường Bồ-đề.”
Chúng làm cho tất cả chúng sanh đều bị rơi vào hầm hố dâm dục và đi lạc
ra khỏi con đường Bồ-đề. Con đường Bồ-đề đã mất, không còn nữa, thì
chạy đi đâu? Chạy vô địa ngục! Bấy giờ, sư phụ trông thấy đệ-tử lù lù
bước vô thì kinh ngạc hỏi: “Sao con cũng tới đây vậy? Đây chẳng phải là
chỗ tốt đâu!” Đệ-tử chưng hửng đáp: “Thầy mới là người tới trước kìa!
Con thì đương nhiên là phải theo thầy rồi, thầy là sư phụ của con mà!”
Thầy thở dài ngao ngán: “Ui chao! Lẽ ra con không nên theo thầy, bởi
đây là một nơi đầy thống khổ!”
Kinh văn:
Hán Việt: “Nhữ giáo thế nhân tu Tam-ma-địa, tiên đoạn tâm dâm, thị danh
Như Lai, tiên Phật Thế Tôn, đệ nhất quyết định thanh tịnh minh hối.”
Việt: “Vậy ông dạy người đời tu pháp Tam-ma-địa, trước hết phải dứt trừ
tâm dâm dục. Đó là lời minh huấn quyết định thứ nhất về tánh thanh tịnh
của Như-Lai và chư Phật Thế Tôn thuở trước.”
Giảng nghĩa:
Sự khác biệt giữa “phản” (trái) và “chánh” (phải) – giữa Ma-vương và
Bồ-tát - vốn rất vi tế; khác biệt như thế nào? Bồ-tát thương xót và che
chở tất cả chúng sanh với lòng từ-bi, chứ tuyệt đối không có lòng dâm
dục. Trong khi đó, Ma-vương đối với chúng sanh thì cứ đề xướng “ái”,
chuyên môn nói chuyện dâm dục, chú trọng dâm dục; thậm chí chúng còn nói
rằng hễ tâm dâm dục càng nặng bao nhiêu thì khai ngộ được quả vị càng
cao bấy nhiêu, và dùng tà thuyết ấy để hại người.
Bồ-tát thì không có tâm dâm dục, các ngài đối với tất cả chúng sanh hoàn
toàn không có sự phân biệt. Có tâm dâm dục tức là ma. Không có tâm
dâm dục, chỉ đơn thuần xót thương và cứu giúp tất cả chúng sanh – đó mới
chính là cảnh giới của chư Phật và chư Bồ-tát. Ma thương người là có
mưu đồ, có tham dục. Bồ-tát thương người thì không có tham dục. Không
có tham dục tức là không có tâm dâm dục. Cho nên, trong Phật giáo có
giảng về Thập Nhị Nhân Duyên như sau:
Vô minh duyên Hành;
Hành duyên Thức;
Thức duyên Danh, Sắc;
Danh, Sắc duyên Lục Nhập;
Lục Nhập duyên Xúc,
Xúc duyên Thọ;
Thọ duyên Ái;
Ái duyên Thủ;
Thủ duyên Hữu,
Hữu duyên Sanh;
Sanh duyên Lão, Tử.
Và, đó cũng chính là điểm bất đồng giữa Phật-giáo với các giáo phái của Ma-vương ở thế gian.
“Vậy ông dạy người đời tu pháp Tam-ma-địa, trước hết phải dứt trừ tâm
dâm dục. Ông phải dạy cho tất cả mọi người ở thế gian muốn tu pháp-môn
Định-lực này biết rằng việc đầu tiên họ cần phải làm là dứt bỏ dâm-tâm,
quét sạch dục-niệm. Đó là lời minh huấn quyết định thứ nhất về tánh
thanh tịnh của Như-Lai và chư Phật, Thế-Tôn thuở trước.” Đạo lý này vốn
do chính Đức Như-Lai và tất cả chư Phật, Thế-Tôn thuở trước dạy bảo.
Các ngài đã đưa ra lời giáo huấn rất rõ ràng: “Nhất định phải cắt đứt,
loại trừ tâm dâm dục!” Đây là điều kiện tất yếu thứ nhất, dứt khoát
không được sửa đổi một mảy may. Đạo lý này là “quyết định nghĩa,” chứ
không phải là “bất định nghĩa”; cũng chẳng phải là “không nhất định” -
chẳng phải là có cũng được mà không có cũng được. Cái tâm dâm dục dứt
khoát phải không còn tồn tại. Có tâm dâm dục tất sẽ bị lạc vào đường
ma. Nếu vẫn giữ tâm dâm dục mà mong khai ngộ, thì chắc chắn sẽ trở
thành quyến thuộc của Ma-vương!
Kinh Văn:
Hán Việt: “Thị cố A-Nan, nhược bất đoạn dâm, tu Thiền-định giả, như
chưng sa thạch dục kỳ thành phạn, kinh bách thiên kiếp, chỉ danh nhiệt
sa. Hà dĩ cố? Thử phi phạn bổn, sa thạch thành cố.”
Việt: “Cho nên, A-Nan, nếu kẻ tu Thiền-định mà không dứt trừ dâm tâm
thì cũng như nấu cát sạn mà muốn thành cơm, dầu có trải tới trăm ngàn
kiếp cũng chỉ gọi là sạn nóng. Vì sao? Vì đó không phải là gốc của
cơm, mà chỉ là cát sạn!”
Giảng nghĩa:
Quý vị xem, ở đây Phật lại nêu ra một tỷ dụ nữa. Đức Phật bảo ngài
A-Nan: “Ông chưa tin ư? Ông chưa tin thì Ta sẽ giảng nghĩa cho ông rõ.”
Và Đức Phật dạy tiếp: “Cho nên, A-Nan, nếu kẻ tu Thiền-định mà không
dứt trừ dâm tâm thì cũng như nấu cát sạn mà muốn thành cơm. Vì lẽ ấy
cho nên, A-Nan à, giả sử ông không đoạn trừ tâm dâm dục mà ngày ngày
cũng ngồi Thiền, cũng tu hành, tất ông sẽ vừa tu hành vừa bị lậu thoát.
Ông tu được một phần thì lậu thoát mười phần, tu được mười phần thì lậu
thoát mất một trăm phần. Ông muốn ngồi Thiền mà lại không chịu dứt bỏ
dâm-tâm ư? Ông vừa muốn ngồi Thiền để được khai ngộ, lại vừa muốn tìm
cầu thứ lạc thú điên đảo ấy, thì chẳng khác nào muốn nấu cát và sạn cho
thành cơm vậy.
Ông đem cát sạn đi nấu, dầu có trải tới trăm ngàn kiếp cũng chỉ gọi là
sạn nóng. Dù ông cứ nấu như thế trong suốt cả trăm ngàn kiếp đi chăng
nữa, thì cũng chỉ có thể gọi đó là ‘sạn nóng’ mà thôi, chẳng có công
dụng gì cả. Vì sao? Do duyên cớ nào ư? Vì đó không phải là gốc của
cơm, mà chỉ là cát sạn! Thứ mà ông đem nấu chính là cát sạn, chứ không
phải là gạo, không có chất liệu của cơm! Nếu ông muốn khỏi dứt bỏ dâm
tâm mà vẫn được khai ngộ thì cũng tương tự như nấu cát sạn mà mong thành
cơm, ao ước cát sạn biến thành lúa gạo vậy.”
Khi không còn dâm-tâm thì sẽ không thấy có tướng nam tướng nữ, không còn
phân biệt giữa mình với người, và cũng không thấy có tướng chúng-sanh,
tướng thọ-giả nữa. Có những người không biết hổ thẹn, dám nói rằng:
“Tôi là người như thế đấy!” Chỉ nói suông như vậy thì chẳng đáng tin.
Không có gì làm bằng chứng thì làm sao quý vị biết được mình là người
như thế? Nếu quả thật quý vị là người như thế thì quý vị phải là người
hoàn toàn không biết mình là người như thế mới đúng; và quý vị cũng sẽ
không nói: “Chứ sao! Tôi không có tâm dâm dục!” Người đã hết sạch dục
niệm thì không có thứ kiến giải ấy. Không có, tức là không có. Họ
chẳng làm rùm beng, chẳng quảng cáo, chẳng đăng báo, và cũng chẳng khoe
khoang: “Tôi là người như thế đấy!” Chỉ một việc tự rêu rao, tự quảng
cáo cho mình là đã không phải rồi; cho nên mọi người cần phải chú ý đến
điểm này!
Nếu quý vị quả thật không có tâm dâm dục, thì quý vị sẽ:
Mắt nhìn hình sắc, trong chẳng có,
Tai vẳng chuyện đời, tâm chẳng hay!
(Nhãn quán hình sắc, nội vô hữu
Nhĩ thính trần sự, tâm bất tri)
Khi mắt nhìn biết bao hình sắc mà trong lòng chẳng thấy có gì hiện hữu
và tai nghe những âm thanh êm dịu mà tâm trí lại không hay không biết gì
cả, tức là đã có được chút “hỏa hầu.” Tâm phải không dao động, không
một ý nghĩ nào dấy khởi, dục-niệm phải hoàn toàn không còn nữa, thì mới
là đúng thật. Nếu có những lúc quý vị vẫn còn tơ tưởng đến phái nữ, thì
vẫn chưa được.
Có một người nọ sau khi khai ngộ rồi thì tới báo cho Sư-phụ của mình
biết và thỉnh ngài khai thị ấn chứng. Vị Sư-phụ hỏi: “Ông khai ngộ cái
gì thế?” Anh ta thưa: “Ồ! Trước kia con hoàn toàn không hiểu, nhưng
nay thì con biết được rằng sư-cô là đàn bà!” Thì ra bây giờ anh ta mới
biết rằng sư-cô, tức là Tỳ-khưu-ni, là đàn bà! Vị Sư-phụ bèn dùng
Phật-nhãn để quán xét: “Ờ! Người này quả thật đã khai ngộ rồi,” và
liền ấn chứng cho anh ta: “Ông được rồi đó!”
Hẳn quý vị sẽ nghĩ: “Ai mà không biết điều đó?” Thế nhưng, người chưa
khai ngộ thì sẽ không nói được câu ấy. Nhờ được khai ngộ rồi, cho nên
người đệ tử này mới thốt ra một câu như thế! Vả lại, anh ta không thể
nào dối gạt người khác được, vì Sư-phụ của anh ta có Phật-nhãn, ngài đã
dùng Phật-nhãn quán sát và biết được đệ tử của mình đã đắc Đạo, đã chứng
được Sơ-quả A-la-hán, nên ngài mới ấn chứng cho, nói rằng: “Đúng vậy!”
Kinh Văn:
Hán Việt: “Nhữ dĩ dâm thân, cầu Phật diệu quả, túng đắc diệu ngộ, giai
thị dâm căn, căn bản thành dâm, luân chuyển Tam-đồ, tất bất năng xuất.
Như Lai Niết-bàn, hà lộ tu chứng?”
Việt: “Ông lấy dâm-thân mà cầu diệu-quả của Phật, cho dẫu có đắc
diệu-ngộ thì cũng đều là dâm-căn. Căn bổn đã thành dâm, tất phải luân
chuyển trong Tam-đồ, không thoát ra được. Thế thì Niết-bàn của Như-Lai
do đường nào mà tu chứng?”
Giảng nghĩa:
Đức Phật dạy ngài A-Nan: “Ông có thích cô con gái của Ma-Đăng-Già ấy,
như thế có nghĩa là không những tâm dâm dục mà ngay cả cái thân dâm dục
của ông đều vẫn còn tồn tại. Ông lấy dâm-thân mà cầu diệu quả của Phật,
cho dẫu có đắc diệu-ngộ thì cũng đều là dâm-căn. Nếu ông dùng cái thân
dâm dục để cầu mong chứng đắc quả vị nhiệm mầu của Phật, cho dù ông có
đạt được đạo lý vi diệu đi chăng nữa, thì cũng còn vướng mắc cái gốc rễ
dâm dục mà ông chưa chặt bỏ được. Căn bổn đã thành dâm, tất phải luân
chuyển trong Tam-đồ, không thoát ra được. Với cái gốc là dâm dục, thì
tương lai ông nhất định sẽ bị đọa vào Tam-đồ. (“Tam-đồ” hay “Tam ác
đạo,” tức là ba con đường xấu ác--địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.) Như
thế, ông dứt khoát không thể nào ra khỏi ba đường ác ấy được, mà chắc
chắn sẽ bị chuyển thân sanh làm súc sanh, ngạ quỷ, hoặc đọa địa ngục.
Thế thì Niết-bàn của Như-Lai do đường nào mà tu chứng? Vậy ông căn cứ
vào cái gì, nương theo con đường nào để có thể chứng được quả vị
Niết-bàn của Phật?”
Kinh Văn:
Hán Việt: “Tất sử dâm cơ thân tâm câu đoạn, đoạn tánh diệc vô, ư Phật Bồ-đề tư khả hy ký.”
Việt: “Phải làm cho dâm-cơ của thân và tâm đều dứt, và tánh ‘dứt’ ấy cũng không còn, thì mới mong đạt được quả Bồ-đề của Phật.”
Giảng nghĩa:
“Phải làm cho dâm-cơ của thân và tâm đều dứt. Ông nhất định phải dứt bỏ
dâm-cơ của thân và dâm-cơ của tâm.” “Dâm cơ” tức là một niệm dâm dục
nhỏ nhất, vi tế nhất. “Dâm cơ” cũng có nghĩa là vô minh; do đó, cần
phải dứt trừ vô minh.
“Và tánh ‘dứt’ ấy cũng không còn, ngay cả cái biết về tánh ‘dứt’ ấy ông
cũng phải không được có nữa, như thế thì mới mong đạt được quả Bồ-đề của
Phật, mới có thể nuôi hy vọng trên con đường giác ngộ của Phật vậy.”
Kinh Văn:
Hán Việt: “Như ngã thử thuyết, danh vi Phật thuyết; bất như thử thuyết, tức Ba-Tuần thuyết.”
Việt: “Như lời Ta nói đây mới gọi là lời Phật nói; nếu chẳng nói như vậy, tức là lời của Ma Ba-Tuần.”
Giảng nghĩa:
“Như lời Ta nói đây mới gọi là lời Phật nói; nếu chẳng nói như vậy, tức
là lời của Ma Ba-Tuần. Những lời như Ta giảng đây mới đích thực là Pháp
do Phật nói ra. Nếu lời nói không phù hợp với đạo lý của Ta thì đó là
lời của Ma-vương vậy.” “Ba-Tuần” là tiếng Phạn, có nghĩa là “ác giả,”
kẻ ác. Ma Ba-Tuần tức là Ma-vương, vua của loài ma.
Người đến nghe Kinh nhất định là đều sáng mắt. Người mù thì không thể
đến nghe Kinh, cả người điếc và người câm cũng đều không thể đến để nghe
Kinh được. Những kẻ đến đây nghe Kinh thì đều càng nghe càng thông
minh, chứ không phải càng nghe càng ngu si. Do đó, bây giờ mọi người
nên mở con mắt trí huệ chân chánh của mình ra và hướng nhĩ-căn chân
chánh của mình vào trong để lắng nghe tự tánh, chứ đừng lăng xăng tìm
kiếm ở bên ngoài nữa. Đó là tất cả những gì tôi muốn nói với quý vị
trong ngày hôm nay!
Vạn Phật Thánh Thành

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét